CHÀO MỪNG

Chào mừng bạn đến với blog Học Văn của học sinh trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn Bình Định - Mọi thông tin liên hệ, đóng góp bài vở, xin gửi về vankhoa11@gmail.com hoặc liên hệ trực tiếp với lớp trưởng Chuyên Văn khoá 11 Đỗ Lê Bảo Duyên - LPHT Trần Thái Diễm Chi
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyên Văn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyên Văn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 8 tháng 2, 2011

Cái tôi trữ tình của Huy Cận

  • ĐỖ LÊ BẢO DUYÊN

Nỗi buồn của nơi quán chật đèo cao, của sông dài trời rộng, nỗi buồn
của đêm mưa cô đơn hiu hắt, trong niềm nhớ thương trải ra cùng với
những hồn thơ hoang mang, nặng trĩu một nỗi sầu cho suốt một thời kì
rất buồn và cũng rất xôn xao. Với Huy Cận, những nỗi buồn ấy như triền
miên, day dứt hơn bao giờ hết khi tiếng của điệu hồn thiên cổ cất lên,
làm cho mạch sâu ngàn năm chợt da diết, chơi vơi.

Thứ Sáu, 10 tháng 9, 2010

Cảm nhận ĐÒ LÈN - Nguyễn Duy

  • CẢM NHẬN ĐÒ LÈN - Trần Thái Diễm Chi
Cuộc sống có những điều được gọi là nỗi nhớ, cứ xa xôi vô hình ; có những hình ảnh được gọi là hoài niệm mãi miên man, dằng dặc ; và có những tình cảm được gọi là yêu thương luôn ấm nồng sâu sắc mà thường đi xa rồi người ta mới biết cách gọi tên chúng. Ta gọi chúng như là hoài niệm,là nỗi nhớ , yêu thương …
Cuộc đời người ngắn ngủi như chiếc lá, thoáng chốc thôi cũng đủ  để mầm non chuyển sắc vàng. Người ta lớn lên, bon chen nhau mà sống để rồi biết bao lần lại tìm về  tuổi thơ trong những nỗi nhớ xa xôi như thế. Với Nguyễn Duy đó lại là cả một thế giới của “ Đò Lèn “ - nơi lắng kết những giá trị vĩnh hằng – bài thơ mà cái tên thôi đã gợi lên giữa lòng người nhiều suy nghĩ. Những người đã biết sẽ thấy quen thuộc nhưng những người không biết lại dễ phân vân: cái gì là “ Đò Lèn “ ? Hai tiếng ấy vô tình trở thành một khái niệm khó hình dung trong khi thực chất nó lại vô cùng giản dị . Nó không phải là con đò, là dòng sông, bến nước hay cái gì đó chợt nảy ra khi lần đầu nghe đến. Đò Lèn là tên một miền đất như bao miền đất khác, nơi đã tạo nên tuổi thơ, hình thành hoài niệm trong bao lớp người xứ Thanh Hóa :

                                Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
                                níu váy bà đi chợ Bình Lâm
                                bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật
                                và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần 
Tuổi thơ được tác giả gợi lên với hình ảnh của bà, với những trò chơi thuở nhỏ.Ở đó có cậu nhóc nào ham chơi mải mê câu cá, có cô bé nào nũng nịu : níu váy bà” ra chợ mua quà. Cái cống Na và chợ Bình Lâm hẳn đã là cả một thiên đường của nhà thơ. Ông viết nó giản dị và chân thật như vừa đem từ cuộc sống vào chứ không chỉ từ một nỗi nhớ thôi. Nào là đi bắt chim sẻ, rồi đi ăn trộm nhãn của chùa, ..., được lang thang trên đồng ruộng, trong những ngôi chùa,  khu vườn rộn ràng tiếng chim kêu. Không gian mở ra rộng lớn và mênh mông thỏa mãn tính hiếu động, đam mê khám phá của tuổi nhỏ, đưa chúng hòa nhập vào thiên nhiên, đất trời. Được chơi đùa, được nghịch ngợm thoải mái mới thấy hết niềm thích thú vô tận. Đó thật sự là tuổi thơ đúng nghĩa, khác hẳn với không gian nhỏ bé bao quanh bởi 4 bức tường chật hẹp bây giờ. Ta có thể hình dung ra trước mắt là hình ảnh một cậu bé tinh nghịch, lấm lem nhưng mắt sáng ngời. Không có quần áo đẹp, không có búp bê, siêu nhân , những tuổi thơ như thế hôm nay chỉ còn phảng phất trong nỗi nhớ người trưởng thành, trong ánh mắt lạ lẫm háo hức của trẻ con khi xem phim, đọc truyện ngày trước- cái thời của ba, của ông mình. Đoạn thơ như một cuốn phim quay chậm miên man , dằng dặc trôi đi : 
                             Thưở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị
                             chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng
                             mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm
                             điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng 
Trở về tuổi thơ ta nhận ra niềm hạnh phúc ngây thơ, trong sáng với  đôi chân nhỏ bé thoăn thoắt khắp nơi, ru mình trong làn hương và điệu hát. Bàn “ chân đất “ đã trở thành hình ảnh không thể nào quên đối với mỗi người, cái cảm giác được trực tiếp chạm chân vào đất mát lạnh đến vô cùng, nó ghi dấu hành trình những đêm lễ xa xôi. Và cũng như thế, mùi huệ trắng , làn khói trầm, điệu hát văn đã đi vào từ vô thức ! Tất cả chúng góp phần hình thành tuổi thơ đầy hồn nhiên , tinh ngịch trong tâm hồn mỗi người đã đi qua tuổi thơ, nhiều khi phải xin “ cho tôi một vé đi tuổi thơ “. 
Từ ngày ấy  đến bây giờ là cả một quá trình con người lớn lên, hình thành nhận thức. Ngày còn nhỏ  vô tư, không lo nghĩ : 
                          Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
                          bà  mò cua xúc tép ở đồng Quan
                          bà đi gánh chè xanh Ba Trại
                         Quán Cháo, Đồng Giao thập những đêm hàn
Bà hiện lên trong cuộc sống của cháu lặng lẽ, âm thầm… Cái đầu non nớt và trái tim nhỏ dại đâu biết thế nào là nỗi cơ cực, nhìn mọi việc rồi cũng sớm quên đi. Không trách được bởi lẽ trẻ con đâu thể sâu sắc như người lớn mà hoặc giả có sâu sắc thì tâm hồn đã chai sạn đi rôi đâu còn là trẻ con với nét thơ dại- cái thơ dại được ấp ủ bằng mồ hôi và nước mắt bà. Yêu thương cao thượng giúp cho tâm hồn tránh những bão dông .
Ngày còn nhỏ, yêu bà  là yêu những câu chuyện cổ tích lung linh huyền  ảo : 
                           Tôi trong suốt giữa hai bờ hư thực
                           giữa bà tôi và tiên, Phật, thánh , thần
Bà thổi vào tâm hồn non nớt cái hồn dân tộc bao thế kỉ trong dân gian. Truyện bà kể lung linh sắc màu cổ tích, mang cháu đến với thế giới của những phép màu kì diệu : Cô Tấm chui ra từ quả thị, Lọ Lem sánh duyên cùng hoàng tử . Bà có mái tóc bạc phơ, có nụ cười hiền như bà tiên trong truyện kể. Bà dọa cháu rằng chằn tinh rất dữ, bảo cháu phải nghe lời,… Nhiều, và nhiều lắm… Chính những câu chuyện đã giúp cháu biết yêu cái thiện, ghét điều ác, có ước mơ và hy vọng. Thỉnh thoảng, tìm về tuổi thơ là tìm đến những điều như vậy, nghe lòng mình kể lại lời bà ấm áp. Tâm hồn sẽ được thanh lọc và trong sáng hơn. Cái ranh giới hư thực trong suốt như chính tuổi thơ con người vậy. Dễ tin, dễ nhớ và cũng dễ quên .

Lớn lên một chút cũng là lúc phải đối mặt với hiện thực , cái  đói trở thành nỗi ám ảnh triền miên :
                            cái năm đói, củ dong riềng luộc sượng
                            cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm
Đọc câu thơ ta bỗng nhớ về khoảng thời gian : 
                              Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
                              Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy
                              Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
                              Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!
 
Nạn  đói những năm 45 như một nỗi kinh hoàng rải khắp  đất nước. Củ dong, củ riềng cũng thành bạn, sượng sùng nhưng đáng nhớ , đáng thương. Mùi huệ  trắng hương trầm cũng phảng phất như cái thoáng trở về bình yên… Những đứa trẻ ngây thơ mơ về một mùi hương đã lắng sâu vào đất, tâm hồn, thân thuộc và rất đỗi bình dị. Đói kém không làm mờ đục tấm lòng trong sáng của trẻ thơ mà ngược lại nó còn gợi nên những mơ ước , cảm tình thầm kín nhưng đáng yêu.
Còn lại gì giữa nỗi nhớ cái bình yên ngày  trước ? Nó có là hoài niệm thương đau , chua xót ?
                               Bom Mỹ giội, nhà bà tôi bay mất
                                    đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền
                                    thánh với phật rủ nhau đi đâu hết
                                    bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn
Quê hương ngày khốc liệt in sâu vào tiềm thức khi mà những hình ảnh sự vật thân thuộc bị hủy hoại. Bom đạn không chỉ phá nát đất quê hương mà còn xóa nhòa đi tuổi thơ tươi đẹp. Bên cạnh không gian thiên đường thuở nào là đổ nát, hoang tàn. Nhà bà, đền, chùa, tất cả tan biến đi dường như quá nhanh đối với những đứa trẻ chưa kịp lớn hoàn toàn. “ thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết “ lay dậy niềm xót xa, như khẽ chạm vào vết đau nhạy cảm. Cái boăn khoăn hết sức trẻ con  lại là niềm đau trong lòng người hiểu chuyện như bà. Không còn quá ngây thơ, có lẽ lũ trẻ hôm nào đã hiểu được cái nguyên cớ đằng sau nó. Nhưng như chưa tin vào chính mình nên mới thành nỗi băn khoăn chưa dám hỏi. Không còn nữa thánh, Phật mơ hồ, huyền diệu, thực tế dữ dội đối lập lại hoàn toàn. Còn bà vẫn vậy, lam lũ tháng ngày: “ Bà tôi đi bán trứng ở ga lèn”
Khi lớn lên , con người nhận thức được đầy đủ hơn, làm thành một hành trình trở về man mác:  
                                   Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại
                                   dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi
                                   khi tôi biết thương bà thì đã muộn
                                   bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi. 
Tình cảm tập trung hướng về bà, con người lam lũ ngập tràn yêu thương. Bà nuôi lớn cháu để hôm nay cháu trở về đây chững chạc, đàng hoàng. Cháu đã và đang là một người lính bảo vệ mảnh đất này, bảo vệ những tuổi thơ như cháu ngày xưa. Chút gì là hối tiếc, yêu thương muộn màng. Đời người mấy ai mà vẹn tròn tất cả ! Con sông kia cũng bên lở bên bồi như người vậy. Bảo rằng đã muộn nhưng chưa bao giờ là quá muộn cả. Yêu thương đâu cần biểu hiện rõ, cháu lớn lên thành người đã là cách thương bà tuyệt diệu nhất. Giờ đây đứng trước mộ bà những vất vả hy sinh ngày xưa càng trở nên thấm thía. Bà đã đi mang theo tất cả những điều đẹp nhất của tuổi thơ cháu bình yên trong khó nhọc. Mất đi không phải là kết thúc. Bà không còn- cháu lớn lên cống hiến cho đất nước, đó là cách tiếp nối sự sống đầy ý nghĩa. Nấm cỏ của bà chôn chặt mọi niềm đau, giữ lại miền ký ức trong sáng cho con người tìm về lúc mỏi mệt.  
Đất nước mình có biết bao người bà như thế! Bà là hiện thân cho phụ nữ Việt Nam hiền hậu, tảo tần hôm sớm. Những ngày đất nước chiến tranh, bà thay cha mẹ nuôi nấng con cháu, giữ cho cháu trọn vẹn một tuổi thơ. Đâu đâu ta cũng nghe nhắc về bà như một hình ảnh thiêng liêng nhất. Người bà đi vào trái tim mỗi người như một lẽ tự nhiên, là miền ký ức vĩnh hằng :  
                                   “Tiếng gà trưa
                                   Mang bao nhiêu hạnh phúc
                                   Đêm cháu về nằm mơ
                                    Giấc ngủ hồng sắc trứng.”
 
Bà , tuổi thơ và những hình ảnh thân thuộc bình dị trong cuộc sống tạo nên giá trị cao đẹp nhất. Đi tìm đâu cái xa xôi khi mà hạnh phúc luôn song hành trong cuộc đời mỗi người. Nó là tình yêu thương vô điều kiện, là những tháng ngày vui chơi thỏa thích. Chúng như mảng màu rực rỡ chiếu sáng tâm hồn, hướng con người về chỗ cái đẹp, cái thiện căn: “Nhân chi sơ tính bổn thiện” .
Cùng với bà , quê hương Đò Lèn hiện lên sống động giữa tuổi thơ chan hòa. Nó hiện diện trong cái nghịch ngợm thiếu thời, trong từng giấc mơ trẻ thơ, là nơi con người vẫy vùng, ngụp lặn. Mảnh đất khi thanh bình, lúc đau đớn oằn mình vì đạn bom nhưng lúc nào cũng phảng phất hương huệ thơm ngần, cái thứ hương vị đã trở thành đặc trưng tồn tại giữa tiềm thức.Đò Lèn của cống Na, chùa Trần, con sông 2 bờ bồi lở , cái tên mộc  mạc mà chân tình thiết tha. Đò Lèn – nơi đó có bà, có cháu, có tất cả hoài niệm yêu thương tồn tại vĩnh hằng cùng nỗi nhớ !
  • BÀI VIẾT CỦA NGUYỄN THỊ THANH NHÀN
Điều quý giá nhất đối với mỗi người có thể khác nhau, song quan trọng nhất là ta biết trân trọng và gìn giữ giá trị ấy như thế nào. Thật vậy, đối với Nguyễn Duy, tình cảm gia đình, đặc biệt là tình cảm bà cháu luôn là một ký ức đẹp trong tim. Qua Đò Lèn, tác giả đã bộc lộ những suy nghĩ sâu lắng về bà gắn liền với sự tỉnh ngộ, nhận ra được tình thương vô bờ mà bà dành cho cháu....

Nhà thơ đã thể hiện hình ảnh của người bà qua sự hồi nhớ:

Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
bà mò cua xúc tép ở đồng Quan
bà đi gánh chè xanh ở Ba Trại
Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn....

Đó là tất cả những cơ cực, vất vả mà người bà đã tảo tần nuôi đứa cháu. Trong cái đói, cái khổ của thời xưa, nổi bật lên trên ấy chính là hình ảnh lam lũ của bà. "Bà mò cua xúc tép", đó là những việc làm hàng ngày để kiếm cái ăn chăm lo cho con cháu. Ẩn hiện trong câu thơ hình ảnh bà còng lưng, nhẫn nại mò cua bắt ốc, không quản khó nhọc để niềm vui ánh lên trong những đôi mắt thơ ngây của cháu khi có miếng ăn... Thế nhưng xúc động hơn cả là hình ảnh bà đi gánh chè đêm đêm. Cái khó cái khổ đè nặng trên đôi vai gầy của bà, thể hiện trong từng bước chân "thập thững". Chi tiết đó đủ khắc họa lên được bao nhiêu nhọc nhằn, khó khăn của đời bà. Bước thấp bước cao lần đi trong "những đêm hàn" buốt giá, bà trở nên bé nhỏ, liêu xiêu, nhưng chất đầy sự thương yêu đối với con cháu, để làm nên một sức mạnh có thể chống chọi được với gió đêm, để có thể tiếp tục làm việc nuôi cháu. Bà hiện lên với sự mảnh mai, nhỏ bé nhưng trên đôi vai bà gánh chè rong như gánh cả một gia đình, một tương lai của con cháu. "Mò cua xúc tép", "gánh chè xanh" là cả một cuộc sống vất vả mưu sinh. Tuy tác giả không nói đến, nhưng hình ảnh người bà hiện lên in đậm dấu thời gian. Một người bà chịu thương chịu khó bền bỉ trong cuộc sống lam lũ, khuya sớm tảo tần. Để rồi từ đó tác giả thể hiện niềm xót xa, ái ngại cho bà. Qua hình ảnh ấy ta nhận ra đâu đó thoáng chút hình ảnh người mẹ thân thương ở thi phẩm Bên kia sông Đuống:

Mẹ già lại quẩy gánh hàng rong
Bước cao thấp bên bờ tre hun hút
....
...Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ...

Cũng từ trong ướt lạnh sương gió, người mẹ hiền từ với hình ảnh "bước thấp bước cao", nhọc nhằn trên đôi vai mẹ gánh hàng rong mong kiếm được miếng ăn, tất cả cuộc sống và tương lai của các con phụ thuộc vào gánh hàng rong của mẹ. Không biết bao nhiêu người con sông Đuống đã lớn lên sau gánh hàng rong ấy. Để rồi từ đó hình ảnh người bà, người mẹ hiện lên với đức hi sinh và tấm lòng bao dung to lớn....

...Thế nhưng, nhà thơ nói đến những điều ấy với tâm trạng "Tôi đâu biết..." khắc họa được những nghẹn ngào trong câu nói. Đó là cả một tuổi thơ nghịch ngợm, vô tư và hồn nhiên gắn với những trò chơi, trò đùa nghịch của trẻ con như câu cá, theo bà đi chợ, bắt chim, ăn trộm nhãn, chơi đền, xem lễ... Thế nhưng để cháu được như thế, bà đã phải nhọc nhằn như thế nào. Qua đó thể hiện sự vô tư đến vô tâm, vô tính của người cháu. Phải chăng lúc ấy cháu còn thơ bé để ngẫm đến những cực khổ của bà!

Tôi trong suốt giữa hai bờ hư - thực
giữa bà tôi và tiên, Phật, thánh, thần
cái năm đói, củ dong riềng luộc sượng
cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm....

"Trong suốt" khắc họa nên sự vô tư, ngây thơ, hồn nhiên của tác giả lúc bé. "Hai bờ hư - thực", hai thế giới khác nhau. Một thế giới hiện hữu với tất cả tình yêu thương của bà, và thế giới hư ảo, vô thực của những "tiên, Phật, thánh, thần", những câu chuyện cổ tích...  Nhà thơ không sống tất cả vì hiện tại, vì tình thương của bà, mà mải bận mơ về những chuyện hư ảo. Điều đó cho thấy tác giả sống với thế giới hư và thế giới thực lẫn lộn với nhau. Để rồi hai câu thơ sau nhấn mạnh mức độ của sự lẫn lộn ấy: những mùi hương cứ trộn lẫn lại với nhau. Hiện thực khó khăn "năm đói" làm người bà càng phải khổ cực hơn nữa. Cậu bé nhỏ khi ấy chỉ biết vui chơi chứ chưa biết nghĩ đến bà mình, lại không nhận ra giá trị "củ dong riềng luộc sượng" vất vả bà kiếm được, không biết thương bà, vô tâm, vô tính trước nỗi cơ cực của bà... Để rồi sau này, khi tác giả đã lớn, đã trưởng thành, đã nhận ra được tình yêu thương của bà dành cho mình, đã biết thương yêu bà thì bà chỉ còn là nấm cỏ:
Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại
dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi
khi tôi biết thương bà thì đã muộn
bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi.....
 Lúc này cháu đã trưởng thành trong nhận thức về cuộc đời, không còn sống trong niềm tin về sự gần gũi, tương đồng giữa hai thế giới thực và ảo, mà đã "đi lính", đã biết cầm súng chống lại cái ác cái xấu. Quê hương vẫn còn đấy, những địa danh vẫn còn lưu giữ những kỉ niệm tuổi thơ, "dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi", nhưng hình bóng của bà thì không còn nữa. Sự thức tỉnh gắn liền với sự ân hận bởi lúc cháu biết thương bà thì cơ hội đền đáp đã không còn. Chính sự tỉnh ngộ ấy khiến cho tình thương bà càng tức tưởi xót xa vì tất cả đã quá muộn màng...

 Thật vậy, trong cuộc đời mỗi con người, ai cũng có điều đáng để hối tiếc. Nhưng quan trọng nhất phải biết sống sao cho trọn vẹn với tất cả, nhất là những người thân yêu của mình. Đừng để khi có tình thương ấy mà không nhận ra, không biết gìn giữ, không biết trân trọng với những gì mình đang có cũng như để những thương yêu ta phải buồn lòng; mà mải mê mong muốn, theo đuổi những giá trị xa vời để rồi khi nó mất đi ta mới biết thương, biết quý thì tất cả cũng đã quá trễ, quá muộn...
  •  BÀI VIẾT CỦA ĐỖ LÊ BẢO DUYÊN
"Quê hương là gì hả mẹ?
Mà cô giáo dạy phải yêu
Quê hương là gì hả mẹ?
    Ai đi xa cũng nhớ nhiều..."
Mỗi người sinh ra đều có một quê hương. Dù có ngược xuôi giữa biển lớn cuộc đời, dù thời gian có đổi thay, dù hạnh phúc hay đớn đau, vui buồn sướng khổ thì quê hương cũng là nơi để ta quay bước chân trở về nương tựa, tìm chốn bình yên.Bởi nơi đó chất chứa những kỉ niệm tuổi thơ một thời và tình cảm ấm áp, hồn hậu của gia đình. Là một trong số những bài thơ hòa vào cảm xúc ấy, "Đò lèn" của Nguyễn Duy đã đưa mỗi người trở về miền kí ức xa xăm với tuổi thơ gắn liền với bao kỉ niệm bên người bà yêu thương.
"Đò Lèn" - hai chữ giản dị, mộc mạc nhưng lại gợi lên tất cả những gì đẹp nhất và thân thương nhất. Ngay từ đầu, nhan đề bài thơ đã đưa đưa người đọc về với không gian mang đậm dấu ấn làng quê Bắc Bộ.Tuổi thơ là những ngày mẹ mất sớm, sống cùng với tình yêu thương bên người bà và miền quê mộc mạc, một cách tự nhiên, "Đò Lèn" bước vào những trang thơ với tất cả tình cảm yêu thương và chân thành nhất mà tác giả đã dành trọn cho quê hương. Bằng ánh nhìn của người con trở về, nhắc lại những kỉ niệm ngày xưa với hình ảnh người bà xuyên suốt, Nguyễn Duy đã khơi gợi lên những xúc cảm chân thành và chút man mác trong suy tư của mỗi người.
Tuổi thơ là những ngày đẹp nhất và trong sáng, hồn nhiên nhất. Bởi nó trôi qua không phiền muộn, luyến tiếc mà hết sức tự nhiên, giản đơn. Chính vì thế trong lòng mỗi chúng ta luôn lưu giữ và nâng niu những kỉ niệm đẹp đẽ ấy bằng tất cả lòng trân trọng và chân thành. Và cũng như mọi người, tuổi thơ Nguyễn Duy cũng trôi qua bình lặng, êm đềm:
"Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
níu váy bà đi chợ Bình Lâm
bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật
và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần"
Kỉ niệm tuổi thơ tinh nghịch , dễ thương ùa về trong tâm trí nhà thơ tạo nên cảm giác thích thú, vui tươi. Những thói quen "câu cá", "níu váy bà đi chợ", "bắt chim sẻ", "ăn trộm nhãn" trở nên hết sức quen thuộc trong tuổi thơ của tất cả các cậu bé và cô bé. Ta có thể hình dung một cậu bé hiếu động, tinh nghịch luôn tìm cho mình những phút giây vui thích của cuộc sống. Đó là những ngày thơ thẩn ôm cần chờ cá cắn câu, là những ngày tò mò pha chút rụt rè, sợ hãi theo bà đi chợ, là những khoảnh khắc nín thở hái trộm nhãn cùng bạn bè. Thấp thoáng trong tuổi thơ bình yên ấy là không gian của những ngôi chùa mang đậm dấu ấn văn hoá đặc trưng của quê hương và hình ảnh người bà hồn hậu giàu tình yêu thương. Trong kí ức của Nguyễn Duy in đậm dấu ấn của những phong tục tập quán đặc trưng của người dân bản xứ. Yên bình, nhẹ nhàng nhưng cũng mang chút gì đó sâu thẳm, lắng trầm đọng trong sắc huệ trắng tinh khiết và mùi nhang trầm thoang thoảng chút hơi thở, hoài niệm của quê hương, tuổi thơ trong sáng của nhà thơ cứ thế trôi qua tự nhiên cùng năm tháng:
"Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị
chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng
mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm
điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng"
Không những thế, tuổi thơ còn gắn với hình ảnh người bà lam lũ, cơ cực. Bằng giọng tiếc nuối và xúc động, tác giả nhắc về tuổi thơ cũng là gợi nhắc về người bà vất vả lo toan:
"Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
bà mò cua xúc tép ở đồng Quan
bà đi gánh chè xanh Ba Trại
Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn"
Có ai nào biết mình đã vô tình lãng quên những gì quen thuộc, gắn bó nhất với cuộc đời ta. Cậu bé ấy mải mê với những thú vui thích và những tiếng cười trong trẻo nào có biết đến nỗi cơ cực đắng cay của bà. Vừa là bà, vừa là mẹ, bà ngoại của Nguyễn Duy dồn hết tình yêu thương cho con cháu, lam lũ và cam chịu những đắng cay cốt để có thể cải thiện những khó khăn cuộc sống lúc bây giờ. Bà đã làm tất cả những công việc có thể, từ việc nặng đến việc nặng đến việc nhẹ, dù gần hay xa, thời tiết có khắc nghiệt đến mấy cũng cười hồn hậu khi mang về cho con cháu những hạnh phúc nhỏ nhoi, đơn giản. Cái dáng nhẫn nại lội sông suối, tất bật trong đêm lạnh giá làm ta nhớ đến cánh cò cơ cực trong ca dao:
"Cái cò lặn lội bờ sông..."
Bà cũng như cánh cò, mong manh, yếu đuối, lầm lụi vượt qua tất cả để che chắn, chắt chiu giữa biển đời đầy khổ cực. Đáng lẽ trong những đêm như thế, phải được ngủ trong chăn ấm thì bà lại lặn lội đến nhiều nơi,...tất cả đã in đậm vào trong tâm trí của tác giả. Trải theo bước chân của bà là những con đường quê hương gần gũi, thân quen mở ra với đồng Quan, Ba Trại, Quán Cháo, Đồng Giao - cách xa với nơi ở của tác giả. Vùng đất nhiều màu sắc gắn liền với hình ảnh người bà và những kỉ niệm tuổi thơ bây giờ chợt trở về, ngâm nga trong lòng tác giả chút gì tiếc nuối, ăn năn. Nưng tuổi thơ ấy còn in đậm dấu ấn của nạn đói:
"Tôi trong suốt giữa hai bờ hư - thực
giữa bà tôi và tiên, Phật, thánh thần
cái năm đói, củ dong riềng luộc sượng
cứ nghe thơm mùi huệ trắng hương trầm"
Nạn đói bủa vây lấy cuộc sống của người nông dân. Họ đã cơ cực, thiếu thốn trăm bề nay lại còn đói khổ hơn gấp ngàn lần. Củ dong riềng luộc sượng hoang mang, mặt chát giọt nước mắt đắng cay thầm lặng của bà trong đó. Cậu bé kia ngơ ngác giữa những gì gắn bó suốt bao ngày hồn nhiên, nay sao như chợt thay đổi một cách vô hình. Nạn đói đã làm cho con người không còn mơ mộng hay hướng mình vào những điều hư vô. Người ta lo tất bật ngược xuôi để lo từng miếng ăn, cái mặc. Nhưng với những đứa trẻ, những đổi thay ấy thật khó hình dung và thích nghi nhanh được. Chính gì thế mà những suy nghĩ, băn khoăn không hề được giải thích rõ ràng. Một bên là thế giới hư vô, linh thiêng của tiên, Phật, thánh thần, một bên là người bà đang đối chọi với hiện thực đầy đau thương, cậu bé chìm đắm vào ranh giới thực hư vô hình. Đặt bà vào khoảng cách với tiên , Phật , thánh thần bằng tất cả suy nghĩ hồn nhiên thơ trẻ, phải chăng cậu bé đã xem bà hiền lành, nhân từ như những vị có thể cứu nhân độ thế? Phải chăng đó là nỗi ước vọng giản đơn muốn cuộc sống được cải thiện nhờ vào phép màu của thần linh? Hay phải chăng trong tâm thức ấy, bà là cầu nối giữa bến bờ thực - hư cổ tích - hiện thực? Bà đưa cháu đến những ước mơ lấp lánh, giúp cháu hiểu ra giữa hiện thực cơ cực làm người lớn phải tất bật thì tâm hồn trẻ thơ mơ mộng làm cuộc sống tinh thần bớt khổ, bớt lo. Chính bà đã nuôi dưỡng cho cháu những niềm tin, suy nghĩ và khát vọng chân chính, nuôi dưỡng cho tâm hồn tinh tế đầy nhạy cảm, để mai này chợt rung động và khắc khoải trong những vần thơ giữa cuộc đời. Thực hư, hư thực, những cảm giác ngây thơ trong sáng ấy chợt lung linh, mông lung hơn khi một lần nữa phảng phất mùi huệ trắng hương trầm. Có lẽ mùi hương này đã in dấu đậm nét trong thơ Nguyễn Duy. Trong bài thơ "Ngồi buồn nhơ mẹ ta xưa", nó đã thổi vào lòng người chút bâng khuâng, băn khoăn khi gợi về nỗi nhớ da diết:
"Bần thần hương huệ thơm đêm
Khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn..."
Vâng, hương huệ ấy, khói nhang ấy gợi về nỗi nhớ, đưa ta đến những khát vọng đến với không gian linh thiêng, ảo mộng bây giờ lại thoang thoảng trong những câu thơ khắc khoải khi nhắc về bà, về mảnh đất quê hương. Dường như mùi huệ tinh khiết, khói nhang thơm nồng vẫn còn phảng phất đâu đây trong những bài thơ, trong tâm trí người đọc. Nó làm hồn người trở nên bần thần, quên đi hết những đau khổ trần ai phải đối mặt. Và để đến khi hồn người đã trong trẻo, ngân nga thì nó lại làm dâng lên cảm giấc cay nồng nơi sống mũi, nước mắt chợt rưng rưng. Nước mắt ấy là bởi khói nhang hay bởi nỗi xúc động khi chứng kiến hiện thực khốc liệt, chứng kiến những đắng cay mà bà phải trải qua? Tình cảm yêu thương, trân trọng bà bây giờ đã trở nên thiêng liêng, đáng quý và thanh sạch hơn bào giờ hết. Nó như mùi huệ trắng tinh khôi, mùi nhang trầm ấm nồng mà không có chút bụi nào có thể vương vấn vào. Tình cảm cháu dành cho bà, mãi vẹn nguyên như thế, trong sáng như thế ngay cả trong suy nghĩ và cảm thức, trong kí ức và cả trái tim. Chút gì linh thiêng, man mác còn đọng lại đâu đây, đưa cháu về đến những kí ức đẹp với bà, với thời gian đã xa...
Nhưng rồi đột ngột, tuổi thơ chợt bay biến theo tiếng bom đạn và sức càn quét của giặc Mỹ.Những kỉ niệm bên bà, bên không gian quen thuộc không còn nữa, tất cả đã bay lên theo nỗi tiếc nhớ , hoài mong. Chẳng còn yên bình, nhẹ nhàng, bây giờ chỉ còn nỗi lo lắng, ái ngại về hiện thực:
"Bom Mĩ dội, nhà bà tôi bay mất
đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền
thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết
bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn"
Căn nhà những ngày gắn bó và ăn học, đền Sòng những ngày ngơ ngác chân đất đi xem lễ hội, chùa chiền những ngày hái nhãn trộm, bắt chim giờ đã bay đi tất cả, đẻ đi đến một thế giới xa xăm mà không bai giờ có thể tìm lại được. Chiến tranh khốc liệt gây bao đau thương tang tóc, làm những ngày tuổi thơ êm đềm bị chôn vùi, vụt tắt, nhưng trên hết nó đang bủa vây lấy người bà tội nghiệp. Giọng thơ có phần trách móc khi nói về hiện thực. Người ta thường cầu mng ở những bậc siêu nhiên điều bình an, hạnh phúc, nhưng bây giờ chẳng có hạnh phúc mà chỉ lại có mình bà lại cặm cụi chắt chiu từng chút một, phiêu diêu nhiều nơi. Bà giờ đây phiêu dạt trên sân ga, bán từng quả trứng, nâng niu từng sự sống, trân trọng từng hơi thở, nhịp tim. Phải chăng trong suy nghĩ của tác giả, bà bây giờ cũng giống như tiên,Phật,thánh thần, gửi những hạnh phúc, sự sống theo hành trình của chuyến tàu về những nơi khác? Bà đứng ở sân ga để chắt chiu, chu cấp cho cuộc sống nhưng cũng là để dõi mắt theo những chuyến tàu, trông đợi bước chân cậu bé ngày xưa đi lính trở về. Bà đã chờ cùng tháng năm, cùng hành trình của cuộc kháng chiến, cùng khổ đau....nhưng chỉ tiếc, khi cháu trở về thì bà đã không còn nữa:
"Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại
dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi
khi tôi biết thương bà thì đã muộn
bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi."
Thời gian qua, tuổi thơ cũng qua, bây giờ miền quê ấy đón bước chân trở về của cậu bé năm nào. Cũng vẫn là những không gian quen thuộc, dòng sông nối liền quá khứ, hiện tại vẫn chảy tràn trong tâm trí người trở về, nhưng man mác nỗi đau khi vắng bóng người bà yêu thương. Bà đã nằm xuống đất, hòa mình vào với cỏ cây, đi đến thế giới linh thiêng trong truyện cổ tích thuở thiếu thời của cậu bé. Cái dáng cam chịu, lam lũ, tất bật không còn nữa, thay vào đó là khoảng trống vô hình đang lan rộng ra trong trái tim. Cậu bé bây giờ đã lớn, đã từng trải với cuộc đời, những suy nghĩ, cảm thức hồn nhiên không còn nữa, chỉ có tình yêu thương bà vẫn dạt dào, vẹn nguyên. Cảm xúc nhịp nhàng trôi chậm theo nhịp thơ lặng lẽ giờ đây được thẻ hiện chân thành, rõ ràng hơn bao giờ hết. Không bóng bẩy, hào nhoáng, không hình thức phô trương, tình cảm của cháu dành cho bà giản đơn nhưng sâu thẳm, bền bỉ.
Tuổi thơ trải dài theo nỗi nhớ, gắn với kí ức và hình ảnh người bà quen thuộc thân thương. Trải qua những biến cố cuộc sống, những đổi thay về không gian và thời gian, nhưng tình yêu của cháu dành cho bà là mãi mãi. Thản nhiên trong cách thể hiện, nhưng chất chứa cùng những hình ảnh, giọng điệu là cảm xúc về nơi mà mình đã từng gắn bó, những kỉ niệm đã từng trải qua và những nỗi nhớ yêu thương cho bà, để khi tất cả khép lại,  ta chợt giật mình nhận ra, hình như có một giọt nước mắt đang rơi giữa cuộc đời...

Chủ Nhật, 17 tháng 1, 2010

Hướng dẫn gửi bài

Để post bài cho blog Học Văn, đăng nhập bằng tài khoản của mình, sau đó vào trang chuyenvanlqd.blogspot.com , ở phía trên góc phải của trình duyệt có mục Bài đăng mới, nhấn vào link, sẽ hiện lên khung đăng bài.
Trình tự:
Đặt tiêu đề bài đăng
Đánh máy văn bản (mã Unicode) vào khung bài đăng
Đặt nhãn cho bài đăng (Lưu ý nhãn chính là chuyên mục, có thể chọn theo gợi ý nhãn để đưa vào chuyên mục phù hợp)
Nhấn nút xuất bản
Xem bài đăng
Nếu cần đưa hình ảnh thì bấm vào khung chèn hình ảnh, dán đường dẫn hình ảnh vào từ web (file hình ảnh có đuôi là jpg hay gif) hoặc tải từ máy lên!
Ví dụ:


Cần đưa video thì có thể chọn vị trí chèn trong khung đăng bài, chuyển sang chế độ sọan thảo html, dán mã nhúng vào là có video.

Nếu có sai sót trong quá trình post bài thì bấm vào hình cây bút chì dưới bài để chỉnh sửa.
- Lưu ý: nếu bài gõ trong Word, có thể copy và dán vào bài, sau đó bấm xuất bản, trình duyệt sẽ báo lỗi html, chỉ việc xóa những chỗ trình duyệt đã cảnh báo, đó là các thẻ meta, thẻ link,... là có thể đăng bài. Bằng cách này có thể đưa bài có table vào trong blog.
Chúc các thành viên gửi bài thành công và post nhiều bài đóng góp!
 Những người được cấp đặc quyền quản trị có thể chỉnh sửa bài đăng của blog.

Thứ Tư, 9 tháng 12, 2009

Bình giảng đoạn trích "Cảnh chia li" trong "Chinh phụ ngâm khúc"

     Cảnh chia li là một trong những đoạn trích hay nhất của Chinh phụ ngâm khúc, đã cho thấy rõ hoàn cảnh bi thương của đôi vợ chồng trẻ.
            Tiếng địch thổi nghe chừng đồng vọng
           Hàng cờ bay trong gió phất phơ.
      Trong cái giờ phút chia li ấy, trong cái không gian nhuốm đầy màu tâm trạng, bất giác, một tiếng sáo vang lên như mang theo cả nỗi niềm của người chinh phụ. Tiếng sáo ấy dường như lắng đọng cùng tâm trạng nàng, như muốn gửi gắm những mong mỏi, chờ đợi, lo lắng cho người chinh phu ở nơi sa trường. Đằng sau hình ảnh bóng cờ phất phơ, ta còn nhận ra được ánh mắt đăm đắm nhìn theo cùng với tất cả tấm lòng son sắt, thủy chung của người chinh phụ, hi vọng có thể tìm thấy được bóng hình quen thuộc của mình.
                 Dấu chàng theo lớp mây đưa,
                Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà.
       Hai câu thơ tiếp theo đã mở ra một không gian thiên nhiên vô cùng rộng lớn, bao la, rợn ngợp. Phải chăng ở đây, không gian ấy được tạo nên như muốn chia cắt đi mối tình son sắt, mặn nồng của đôi vợ chồng trẻ? Nhưng dù sao đi nữa, bất chấp mọi sự cản trở, họ vẫn luôn luôn hướng về nhau, quan tâm, lo lắng cho nhau dù cho lớp mây kia đưa đẩy, rặng núi kia hóa thành bức tường ngăn cách. Thủ pháp sóng đôi, một thủ pháp quen thuộc của thi ca Việt Nam đã góp phần làm tô đậm thêm cho sự khắng khít, gắn bó không muốn xa rời của đôi vợ chồng. Thế nhưng, trong hoàn cảnh đất nước lâm nguy, người chinh phu đã ra đi, để lại người chinh phụ bơ vơ, đơn độc một mình trong chốn buồng cũ chiếu chăn hiu quạnh. Nàng ngơ ngẩn, bàng hoàng ôm trọn cho riêng mình một nỗi sầu, một nỗi nhớ mong dâng lên đến tột cùng.
         Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại
         Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang
         Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương
         Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.
     Hàm Dương - Tiêu Tương, hai địa danh được lặp đi lặp lại nhiều lần trong bốn câu thơ trên, cùng với các hành động ngoảnh lại, trông sang đã khiến cho mối sầu lại càng sầu hơn. Không những vậy, khoảng cách xa nghìn trùng giữa Hàm Dương - Tiêu Tương đã vô tình làm tăng thêm sự xa cách của đôi chinh phu, chinh phụ. Và giờ đây, họ chỉ còn biết gởi gắm những tâm tư, tình cảm của mình vào thiên nhiên, giãi bày tấm lòng của mình với thiên nhiên, và thầm mong đến ngày gia đình được đoàn tụ, sum họp hạnh phúc. Nhưng sự thật lại quá phũ phàng, hiện thực khốc liệt của chiến tranh đã lấy đi tia hi vọng duy nhất của người chinh phụ. Để rồi nỗi đau về thể xác lẫn tinh thần lại như chiếm lĩnh hoàn toàn tâm trí của nàng.
              Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
              Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
              Ngàn dâu xanh ngắt một màu
              Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?
      Ở đây, tác giả không chỉ muốn nói đến mối sầu dai dẳng luôn bám theo người chinh phụ, mà nó còn muốn nhấn mạnh hơn về hiện thực oái ăm đến lạ thường: Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy. Họ muốn gắn bó, gần gũi nhau nhưng lại phải chia li, cách biệt, càng dõi nhìn nhau thì càng không thể thấy được nhau. Nhưng, tuy hai người ở hai nơi xa cách nhau đến muôn trùng, muôn dặm thì tâm hồn của họ vẫn hướng về nhau, thấu hiểu cho nhau những niềm vui, nỗi buồn. Để từ đó, họ ngoảnh về cùng một hướng, cùng nhìn về bãi nương dâu xanh ngắt kia. Màu xanh - màu của hòa bình, của sự hi vọng, tràn trề hạnh phúc, nhưng sao ở đây,  nó lại thấm đẫm sự cô đơn, hiu quạnh khiến cho người chinh phụ không thể không thốt lên một câu hỏi chứa đầy sự phẫn uất, sầu hận Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai???...

Thứ Ba, 8 tháng 12, 2009

Phân tích đoạn trích Cảnh chia ly

  • Nguyễn Thị Ngọc Ngà
Tiếng địch thổi vọng lên từ phía xa như báo hiệu giờ chia tay đã điểm,tất cả sẵn sàng cho một cuộc viễn chinh.Tiếng địch ấy như nói thay cho tâm trạng con người vào cái giờ phút nghẹn ngào không nói nên lời.Hàng cờ đã khuất xa chỉ còn thấy phất phơ bóng dáng mờ mịt trong khói bụi của đoàn quân.Tiễn đưa nhau trong giờ khắc cuối cùng khiến cho lòng chinh phu,chinh phụ ai nấy đều mang nặng tâm trạng buồn thương.Dấu vết chồng chìm dần rồi mờ nhạt trong không gian để lại cho người chinh phụ ngổn ngang những tâm tư vây kín,ngẩn ngơ như người mất hồn.Chàng đã đi xa bỏ lại nàng trong nỗi cô đơn chiếc bóng,tự mình đối diện với mình trong căn phòng lặng lẽ,quạnh hiu,kể sao cho xiết những nỗi niềm đơn độc,lẻ loi tràn ngập chất chứa trong tâm trí nàng lúc bấy giờ.Trong lòng nàng luôn hiện hữu những lo lắng ,bồn chồn không yên khi nghĩ đến việc người chồng thân yêu dấn thân vào cảnh binh đao,loạn lạc,biết có còn ngày gặp lại chăng?Đoái nhìn khung cảnh biệt ly chỉ còn lại là một màu mây biêng biếc trải lên nền núi xanh thẳm xa vời vợi như nỗi buồn của con người trải ra theo hồn sông núi.Tuy đã ra đi nhưng trong lòng người chinh phu vẫn luôn canh cánh bên lòng những mối bận tâm cho người vợ,cho tình cảnh gia đình khi thiếu vắng trụ cột cùng những tình cảm yêu thương nồng thắm gửi vào trong cái ngoảnh lại từ chốn Hàm Dương xa xôi.Đáp lại đó là cái nhìn đăm đắm của người vợ về nơi kia ngóng trông bóng dáng người chồng thân yêu đã khuất dần vào hư vô.Khoảng cách nghìn trùng kia hầu như không ngăn được mối giao cảm của đôi vợ chồng luôn hướng về nhau những tình cảm yêu thương tha thiết,vượt qua những cách trở của không gian vô tận.Tưởng xa nhưng gần,ngỡ gần rồi lại xa,cùng trông về phía nhau nhưng lại chẳng tìm đâu thấy hình ảnh người thương,chỉ có những đường nét nhòe mờ còn đọng trong tâm trí chập chờn phút chốc hiện lên khiến cõi lòng chinh phụ thêm tái tê,xa xót.Hiện hữu trong cái nhìn của cả hai giờ đây chỉ còn là cái màu xanh của nương dâu,một màu xanh ngắt trải lên bao la núi đồi, khuấy động nỗi buồn thương từ tận đáy lòng ứa ra thành những giọt lệ nghẹn ngào đẫm mi.Xưa nay chinh chiến có mấy ai về. Biết có đợi được đến ngày đoàn tụ hay không?Những nhớ thương da diết, nỗi niềm suy tư kết đọng thành khối sầu đeo đẳng trong lòng chinh phu,cô phụ vọng lên thành một câu hỏi nghe sao đau đớn, buồn thương”Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai”

Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2009

Về bốn câu mở đầu Đoạn trường tân thanh

  • Nguyễn Phúc Hải Nguyên


    Bất tri tam bách dư niên hậu
    Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như ?
            Nỗi niềm băn khoăn ấy của Nguyễn Du làm chúng ta không thể nào quên được cuộc đời và tấm lòng nhân đạo cao cả của ông. Cho đến mãi muôn đời sau tên tuổi ông vẫn sống mãi với thời gian và lịch sử. Ta quên sao được một con người có tấm lòng nhân hậu bao la, thông cảmsâu sắc với những kiếp người lầm than. Tấm lòng ấy được thể hiện rõ trong tác phẩm "Đọan trường tân thanh" của ông.
    Trăm năm trong cõi người ta
    Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
    Trải qua một cuộc bể dâu
    Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.


            Nguyễn Du viết "Truyện Kiều" không phải chỉ đơn thuần là viết về một câu chuyện tình, mà đằng sau câu chuyện ấy còn là hiện thực của một cái xã hội phong kiến thối nát đầy bất công. Phải chăng Nguyễn Du viết về "cõi người ta" viết về chuyện trăm năm của một đời, một kiếp người trong xã hội. "Cõi người ta" ấy đó là "cái cõi của chính Nguyễn Du"? Trong cái "cõi người ta" ấy, dường như chữ "tài", chữ "mệnh" đi đôi với nhau, dường như chúng là những đại lượng tỉ lệ thuận. Nhưng không, "tài - mệnh tương đố" (tài mệnh ghét nhau). "Tài tử đa cùng, hồng nhan đa truân". Tài tử và giai nhân là hai kiếp người cùng chung số phận. Chính tài năng của họ đã mang đến những điều không tốt đẹp, một cuộc sống nhiều gian nan, đau khổ. Cũng giống như Thúy Kiều và Từ Hải. Thúy Kiều chỉ vì vừa có sắc vừa có tài mà phải chịu cuộc sống long đong lận đận suốt 15 năm, Còn Từ Hải, một anh hùng đầu đội trời chân đạp đất, "côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài" mà cuối cùng cũng phải chịu một cái chết bi thương. Tại sao vậy? Tại sao những con người ấy lại phải chịu một cuộc sống bất công như thế? Hiện thực xã hội lúc bấy giờ đã khiến Nguyễn Du phải viết một kết thúc như thế. Xã hội đã không còn lẽ phải, đã không còn công lý.
            Hình ảnh "bể dâu" trong câu thơ được nhà thơ lấy ý từ câu chữ Hán "thương hải biến vi tang điền" (bể xanh hóa thành nương dâu). Đó là hình ảnh ruộng dâu xanh ngắt mới hiện ra nhưng giờ đây đã biển nước bao la. Phải chăng đây là ảo giác?. "Cuộc bể dâu" mà Nguyễn Du "trải qua" không phải là ảo giác mà hiện thực rành rành trước mắt. Đó là hình ảnh xã hội với sự thay đổi nhanh chóng đến không thể ngờ mà Nguyễn Du đã chứng kiến. Chính vì "những điều trông thấy" mà làm nhà thơ "đau đớn lòng". Tâm can tác giả quặn thắt,đau xót vô cùng trước những hình ảnh đang xảy ra hàng ngày hàng giờ. Nhà thơ chua xót và thông cảm với những kiếp người cơ cực trong cuộc sống. Bằng chính con mắt của mình, Nguyễn Du đã chứng kiến biết bao cảnh đời oan trái vì thế ông mới có thể viết nên những lời đau xót ấy như vậy. Hiện thực của cuộc sống, sự xung đột của xã hội giữa "tài" và "mệnh" đã được thể hiện tất cả trong bốn câu thơ này. Nguyễn Du đã thật sự đau đớn,  đã thật sự cảm thương, xót xa, cảm thông cho số phận những con người này.
            Tóm lại, khi miêu tả vào hiện thực của cuộc sống, sự xung đột giữa tài và mệnh, sự chứng kiến những thay đổi của xã hội trong bốn câu thơ đầu đã làm cho nhà thơ cảm thấy đau đớn và đó cũng chính là giá trị nhân đạo được thể hiện trong tác phẩm "Truyện Kiều".

Bình giảng trích đoạn Chinh phụ ngâm

  • Phạm Thùy Diễm Trinh
Chiến tranh làm cho bao đôi vợ chồng trẻ phải xa lìa nhau, gia đình tan nát, con xa cha và người mẹ xa lìa đứa con thân yêu...Tâm trạng người đi - kẻ ở đã được mô tả rất rõ trong "Chinh phụ ngâm" thông qua cảnh chia li .
"Tiếng địch thổi nghe chừng đồng vọng
Hàng cờ bay trông bóng phất phơ
Dấu chàng theo lớp mây đưa
Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà"
Tiếng sáo thổi ở xa vọng lại như làm cho nỗi buồn của người chinh phụ trải dài ra theo tiếng vọng của âm thanh . "Hàng cờ bay trong bóng phất phơ" - quân đội chinh phu đã đi xa , để lại cho người chinh phụ một nỗi buồn vì cảnh lẻ loi đơn chiếc . Chi tiết này có thể giúp ta liên tưởng tới sự lo lắng của chinh phụ đối với chồng, với nhiều hiểm nguy bất trắc rình rập .
Chinh phu đã đi xa , mờ nhạt như những đám mây . Đối lập với hình ảnh chinh phụ "nhìn rặng núi" đang dõi theo từng bước đi của chồng mình . Nhưng nàng đành bất lực trước khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ như một bức tường che khuất mọi tầm nhìn . Bất lực trước hoàn hoàn cảnh , "ngẩn ngơ" trước "nỗi nhà" . Nàng đành giữ lấy nỗi niềm riêng của mình , không biết nói với ai , chia sẻ với ai .
"Chàng thì đi cõi xa mưa gió
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn"
Trước khung cảnh dữ dội của "cõi mưa gió" , cơn bão tố trong lòng nàng cũng bùng lên dữ dội .Nàng tự trách mình và ân hận khi đã để chồng đi xa chỉ vì giấc mộng " lập công giương danh" . Giờ đây trở về với "buồng cũ chiếu chăn" , nàng lại nhớ đến thời gian hạnh phúc trước đây , lúc hai vợ chồng còn quấn quýt bên nhau như trăng với sao . Nghĩ lại những năm tháng cũ mà nàng cảm thấy ngậm ngùi , luyến tiếc. 
"Đoái trông theo đã cách ngăn 
Tuôn màu mây biếc trải ngàn núi xanh "

Cố gắng trông theo nhưng không được . Cùng với không gian cao rộng , mênh mông bát ngát là hình ảnh con người nhỏ bé với nỗi niềm ắp đầy . Phải chăng nỗi niềm ấy đã cao ngút trời , hòa cùng với mây và trải rộng theo màu xanh bạt ngàn của núi? 
Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại
   Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang
  Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương
  Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng"
 "Hàm Dương" , "Tiêu Tương" là hai địa điểm cách nhau bởi một dòng sông . Vượt qua không gian , đôi vợ chồng trẻ vẫn hướng về nhau , vẫn chăm lo cho nhau ."Khói Tiêu Tương " chắc là một làn khói mờ nhạt , hư vô , tỏa ra từ chính nơi đóng quân của người chinh phu như một làn sương . Sương phải giăng trên những cành cây cũng như đôi vợ chồng quấn quýt bên nhau nhưng ở đây " cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng" . Khi đọc đến chữ "mấy" , ta cứ ngỡ đó là khoảng cách ít ỏi , nhưng tới chữ "trùng" lại gợi nên một khoảng cách dài lê thê , vô tận .
"Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
 Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai "
Nếu như những câu thơ trên là miêu tả tâm trạng trông mong , chờ đợi thì những câu thơ này lại cho thấy nỗi niềm tuyệt vọng dâng trào như con đường dài không có điểm dừng. "Xanh xanh những mấy ngàn dâu " là một thiên nhiên dầy sức sống , trái với nỗi niềm héo úa , tàn phai của người chinh phụ. "Ai sầu hơn ai?" ở đây cớ sự so sánh như làm tô đậm thêm nỗi buồn của người chinh phụ nói riêng cũng như nỗi niềm của cả những người phụ nữ trong xã hội thời bấy giờ nói chung.Chế độ phong kiến không làm cho cuộc đời người phụ nữ bất hạnh một cách trực tiếp mà : 
"Giết nhau chẳng cái lưu cầu
Giết nhau bằng cái u sầu độc chưa ?"
(Trích "Cung oán ngâm")

Bình giảng Phút chia ly

  • Nguyễn Phúc Hải Nguyên
 Chiến tranh lọan lạc đã gây bao nỗi đau khổ trong lòng người.Nỗi buồn sầu,tình thương nhớ,cảnh ngộ cô đơn của người vợ trẻ sau lúc tiễn chồng ra trận thật cảm động!Trong nỗi buồn của người vợ trẻ ấy còn chất chứa nỗi oán hận chiến tranh phi nghĩa làm hạnh phúc lứa đôi tan vỡ,đồng thời nỗi buồn ấy còn thể hiện niềm khát khao của người vợ muốn sống trong tình yêu thương,hạnh phúc trọn vẹn.Đó là tất cả những tâm tư,nỗi niềm được thể hiện trong đoạn thơ " Sau phút chia li " trích trong " Chinh phụ ngâm khúc " của Đặng Trần Côn.
     Mở đầu đọan thơ là âm thanh một tiếng sáo.Nhưng tiếng sáo này không phải là tiếng sáo tươi vui,tiếng sáo xuất hiện trong những bữa tiệc rượu hay tiếng sáo những lúc chia li của những người bằng hữu,mà ở đây là tiếng sáo từ xa vọng lại,tiếng sáo cho sự chia li của đôi vợ chồng trẻ.Kẻ đi người ở lại,tiếng sáo xuất hiện làm cho không gian bỗng trở nên não nùng hơn,hoang vắng hơn.Trong cái không gian ấy,hình bóng của một hàng cờ bay phất phơ,hình ảnh của người chồng ra chiến trường dần dần khuất sau những đám mây trên ngọn núi.Nhìn hình bóng chàng ra dần dần mờ nhạt đi,thiếp chỉ cỏn biết "ngẩn ngơ" trong muôn vàn tâm trạng.
Chàng thì đi cõi xa mưa gió
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn.
"Cõi xa mưa" và "buồng cũ chiếu chăn" là hai hình ảnh ẩn dụ ước lệ.Khi người xưa nói "cõi xa mưa gió" là để ngầm chỉ chiến trường nguy hiểm,còn buồng cũ chiếu chăn để chỉ cho tổ ấm trước đây của hai vợ chồng.Tuy trở về với mái ấm lúc xưa nhưng giờ đây đó lại là một mái ấm hạnh phúc cô đơn.Vì sao ư?Vì hiện thực của cuộc sống quá phũ phàng,hiện thực của một cuộc chia li,của một sự xa cách khắc nghiệt.Tiễn chồng ra đi nơi chiến trường khốc liệt,người vợ trở về tổ ấm cũ trong sự lẻ loi đơn chiếc.Lúc này,người vợ trẻ mới thấm thía được nỗi cô đơn.Người vợ đóai trông theo hình bóng chủa chồng mình chỉ thấy mây biếc núi xanh.ở đây ta thấy nỗi sầu chia li nặng nề,nỗi buồn ấy như phủ lên màubiếc của từng mây,như trải lên màu xanh của núi ngàn.hai hình ảnh mây biếc,núi xanh ở đây chỉ cho sự xa cách."Tuôn màu mây biếc","trải ngàn núi xanh" gợi nên nét mênh mang vần vũ của thiên nhiên.Nỗi buồn chia li thêm da diết,rộng lớn tưởng đến không cùng.Nỗi buồn đã tăng dần,trở thành nổi sầu muộn dâng lên tràn ngập trong lòng người đi kẻ ở.
     Ta thấy trong bốn câu tiếp theo,tác giả đã sử dụng những địa danh ở Trung Quốc:Hàm Dương,Tiêu Tương tượng trưng chosự xa cách của dôi vợ chồng.Cũng như ở bốn câu thơ đầu,ta cũng gặp những hình ảnh đối lập "chàng ngoảnh","thiếp trông".Tuyphải xa nhau nhưng tình cảm của đôi vợ chồng vẫn còn sâu nặng.Chiến tranh phong kiến không chỉ làm cho huynh đệ tương tàn mà còn đẩy bao gia đình vào cảch ly tán,vợ chồng muốn sôang bên nhau trọn đời hạnh phúc má phải chia xa.Bằng những hình ảnh tương phản đối lập với các điệp từ và đảo vị trí của hai địa danh,tác giả muốn chia đều cảm xúc của hai người,nhấn mạnh nỗi sầu xa cách.Đọc bốn câu này ta thấy tình cảm nhớ thương cứ tăng, tăng dần.Điều đó cho thấy sự chia li ở đây không chỉ là sự chia li về thể xác mà nó còn là sự chia li về tâm hồn.Tuy xa cách nhưng họ vẫn hướng về nhau để tìm thấy,để mãi mãi nhìn thấy nhau.cáng hướng về nhau thì không gian lại càng làm họ xa cách nhau.
     Ở bốn câu cuối,nỗi buồn chia li đã trở thành một khối sầu thuơng nặng trĩu trong tam hồn người chinh phụ.Mọi địa điểm vị trí của câu thơ trước đều bị nhòa mờ đi.Chỉ còn lại những hàng dâu nốii nhau xanh xanh rồi xanh ngắt,xanh đến rộn ngộp,xanh đến não nề,nhứt buốt tận đáy lòng.Để đến cuối cùng người chinh phụ phải thốt lên một lời kêu:'Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?".Như vậy đến lúc náytác giả không tả cảnh ngụ tình nữamà đã chuyển sang tả trực tiếp vào tâm trạng của người chinh phụ,và dường nhu đó cũng là chính tâm sự của tác giả Từ sầu trong câu cuối như đúc kết lại tất cả những cung bậc tình cảm ở những câu trên.Đó là nỗi buồn biệt li đã trở thành nỗi sầu trong lòng người vợ trẻ.


  • Nguyễn Thị Thanh Nhàn – Lớp 10V
Đề : Bình giảng đoạn thơ cảnh chia ly (câu 49 – câu 64)

     Mở đầu đoạn thơ là âm thanh của tiếng sáo vang vọng cùng hình ảnh “cờ bay phấp phới” của nơi chiến trận xa xôi. Người chinh phu phải ra trận ở chốn xa vời, mịt mùng, không biết khi nào mới trở lại “theo lớp mây đưa”. Để rồi tâm trạng, nỗi niềm người chinh phụ ở nhà càng thêm xót xa, “ngẩn ngơ”, “ nhìn rặng núi” chốn xa kia mà lòng không biết được ngày nào chồng mình mới trở về. Người chinh phu phải dấn thân ra chiến trường, đến một nơi nguy hiểm “cõi xa mưa gió”, chỉ còn người vợ ở nhà quanh đi quẩn lại trong khuê phòng “buồng cũ chiếu chăn”. Đó là kỷ niệm gắn với một thời lứa đôi hạnh phúc của hai vợ chồng, thế nhưng giờ đây tất cả đã là dĩ vãng, đã là quá khứ, để người vợ mòn mỏi trông đợi bóng chồng. “Đoái trông” thể hiện sự tiếc nuối,cố gắng níu kéo, tìm kiếm trong vô vọng bóng dáng ngày nào, hạnh phúc ngày nào đã mãi xa vời. Cả một màu “mây biếc” nối tiếp “núi xanh” như làm trải dài ra khoảng cách xa vợi ấy, như là thử thách lòng người vậy. Hình ảnh ước lệ của “chốn Hàm Dương” và “bến Tiêu Tương” đã phần nào cho thấy sự xa cách rộng lớn về mặt không gian. Người ở, người đi đều trĩu nặng trong lòng nỗi sầu nhớ thương, chàng chốn Hàm Dương còn ngoảnh lại, thiếp bến Tiêu Tương hãy trông sang, đó là tất cả tình cảm nhớ nhung da diết của hai vợ chồng dành cho nhau, dù cho có ở “mấy trùng xa cách”. Thế nhưng những tưởng có thể trông thấy nhau thì tất cả chỉ là trong mong ước mà thôi. “Cùng trông mà lại cùng chẳng thấy” làm cho người chinh phu, chinh phụ càng thêm buồn tủi, trông ngóng trong vô vọng, nỗi nhớ mòn mỏi hiện rõ trong màu “xanh xanh” của “mấy hàng dâu”. Ở đây thể hiện sự xa cách trùng trùng điệp điệp qua hình ảnh ước lệ “hàng dâu”. Cái sắc từ “xanh xanh” đến  “xanh ngắt” ấy làm cho nỗi mong nhớ thêm khắc khoải mỏi mòn, màu xanh bạt ngàn ngút mắt bao trùm lấy người chinh phụ, khắc sâu thêm nỗi buồn mong nhớ của nàng, nỗi mong nhớ như trải dài ra mãi, lòng chàng và lòng thiếp không biết “ai sầu hơn ai”.

Bình giảng đoạn trích cảnh chia ly

  •  Hồ Minh Tú


Buổi biệt li, lòng người chinh phụ xốn xang những nỗi mơ hồ. Nàng nhìn đâu cũng thấy cảnh vật nhuốm màu tang thương. Tiễn chàng đi chinh chiến là tiễn chàng đến chốn sa trường hiểm ác,nàng có biết đâu ngày đôi lứa trùng phùng. Tiếng địch sáo văng vẳng đâu đây nghe thật não nùng, vọng lại trong không gian trống trải,”phất phơ”bóng cờ ngóng trông, thảm đạm xiết bao! Dấu chàng xa dần khuất theo làn mây đưa để thiếp nơi đây trào dâng nỗi ngậm ngùi.Mà rặng núi kia sao nỡ làm người chinh phụ “ngẩn ngơ”, ta thấy như ánh mắt nàng đang đau đáu không rời. Một viễn ảnh hiện ra trước mặt, người chinh phụ không còn niềm ảo tưởng về một tương lai hạnh phúc nữa mà là “ chàng thì đi cõi xa mưa gió- Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn”. Điệp ngữ “thì…thì” được nhắc lại hai lần hiện rõ nỗi ám ảnh đang dày vò người chinh phụ: cảnh tượng dữ dội,ác liệt mà chồng nàng phải đối mặt và nỗi cô đơn hiu quạnh bám riết lấy nàng.. “Chàng ngoảnh lại, thiếp hãy trông sang”,đôi trai gái bịn rịn, lưu luyến không muốn người yêu hút dần trong tầm mắt nhưng biết sao nỗi mênh mông của trời đất cách ngăn. Không gian rợn ngợp,triền miên trong âm điệu kéo dài thê thiết “tuôn màu mây biếc, trải ngàn núi xanh” mất hút vào hư không. Tác giả đã rất khéo léo khi sử dụng những địa danh mang tính ước lệ để gợi tả cho tâm trạng người chinh phu lẫn chinh phụ. Hàm Dương-Tiêu Tương, hai chốn cách xa thăm thẳm,hai trái tim rạn nứt đau thương.Thủ pháp đảo từ đã khắc họa rất tinh tế nỗi lòng đầy xáo trộn,chất chứa những lo sợ, tiếc nuối,xót xa, buồn tủi của người chinh phụ. Nhưng ngần ấy vẫn chưa đủ , màu xanh của “ mấy ngàn dâu” từ xanh xanh lại biến thành xanh ngắt,một màu sắc lạnh lẽo đến thấu tim. Dường như nó còn là nỗi tê tái,khắc khoải khiến tâm trạng người chinh phụ rối bời, không thể tìm ra lối thoát khỏi mê cung thăm thẳm “xanh”. Để rồi trong giây phút nỗi niềm dồn nén đền cực điểm nàng phải buột miệng thốt lên câu hỏi từ đáy lòng: “Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”. Hỏi chỉ để lòng bớt nặng trĩu chứ đâu chờ đợi câu trả lời, vì ở phương xa kia chàng có nghe thấu cho? Phút biệt li thấm đẫm sầu thương,bao tâm tư của nhân vật như gởi cả vào lời thơ thắm thiết. Phải là một người đầy lòng nhân đạo và phẩm chất tài hoa,tác giả  mới thấu hiểu và diễn đạt tâm tình người chinh phụ sâu sắc đến thế.

Bình giảng Phút chia ly


  • Đỗ Lê Bảo Duyên
Văn học trung đại đã có biết bao bài thơ hay nói về những cuộc chia li nhuốm đầy tâm trạng đau khổ , lưu luyến , bịn rịn không thể nguôi trong lòng kẻ ở , người đi . Cảnh chia li của đôi vợ chồng trẻ trước khi người chồng ra trận cũng vậy. Ở đó chất chứa biết bao nỗi niềm sầu thương , đau khổ , dằn vặt của người chinh phụ khi phải nhìn theo bóng chồng dần mờ mịt theo từng lớp mây đưa ....


Mở đầu đoạn trích là khung cảnh vắng lặng , mênh mông , nhuốm đãm tâm trạng , nỗi niềm . Đoàn quân đã xa lắm rồi , tiếng địch chỉ còn là những âm thanh vang vọng trong không gian , những hàng cờ giờ chỉ là những chiếc bóng xa mờ giữa mù khơi ... Người chinh phu đã bước ra chiến trường với khát vọng "công ,hầu ,khanh ,tướng" để lại người vợ trẻ với nỗi cô đơn, bơ vơ đang dày vò , xâu xé tâm can . Khi tất cả đã dần tan biến , chỉ còn lại người chinh phụ đối diện với chính mình , với sự cô đơn vò võ , bàng hoàng ngơ ngẩn trước cảnh vật mang đậm màu nhớ thương. Nàng nhìn dải mây , ngọn núi xanh biếc mà lòng chợt đượm buồn:
"Dấu chàng theo lớp mây đưa
Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà"
Nàng dõi theo hình bóng chồng với nỗi niềm lẻ loi, đơn chiếc . Hình bóng người chồng như dần tan theo những áng mây xa mờ kia , chỉ còn lại nàng bơ vơ "phòng không chiếc bóng" mà buồn ngẩn ngơ về nỗi cô đơn riêng mình. Lớp mây , rặng núi kia sao nỡ tàn nhẫn chia đôi mối tình đẹp đẽ vừa mới chớm nở? Nhưng dẫu vậy , đôi vợ chồng trẻ luôn hướng về nhau , lo lắng cho nhau dù cách xa nghìn trùng . Người chinh phu ở ngoài chiến trường có lẽ đang lo lắng cho vợ , cũng giống như người vợ đang lo lắng cho chồng ở " cõi xa mưa gió" với bao hiểm nguy , bất trắc có thể rình rập bất cứ lúc nào . Người chồng ra đi , để lại nàng thui thủi bên "buồng cũ chiếu chăn" lạnh ngắt , trống vắng đến vô cùng . Cũng buồng cũ đó , chiếu chăn đó nhưng giờ chỉ còn lại nàng với nỗi buồn mong nhớ , chỉ biết ngày đêm trông ngóng về nơi xa xôi , mong được nhìn thấy hình bóng của chồng , dù đã bị mây núi che khuất :
"Đoái trông theo đã cách ngăn
Tuôn màu mây biếc trải ngàn núi xanh"
Bút pháp ước lệ được sử dụng khá thành công ở hai câu thơ trên như càng tô đậm thêm nỗi niềm sầu muộn của nàng. Nỗi buồn , niềm thương nhớ của người chinh phụ như hòa vào trong không gian , trải ra như ngàn núi , phủ kín cả trời như mây , để rồi chất chứa cùng năm tháng. Nàng biết, ở bên kia chiến tuyến , người chồng cũng đang dõi đau đáu đôi mắt hướng về phía quê nhà, cũng với biết bao tâm trạng rối bời, đau khổ , mong nhớ. Đôi vợ chồng trẻ ở trong hoàn cảnh thật đáng thương! Kẻ ra đi , người ở lại nhưng vẫn cố "ngoảnh lại", "trông sang" , để mong được nhìn thấy nhau , thỏa nỗi mong nhớ chất chứa trong lòng:
"Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại
Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang
Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương,
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng..."

Hàm Dương và Tiêu Tương , nơi hai dòng sông chia lìa đôi ngả không có điểm gặp nhau nào , cũng giống như người chinh phu và chinh phụ giờ đây đã cách nhau đến nghìn trùng muôn dặm . "Tiêu Tương" và "Hàm Dương" kia vô tình đã làm khoảng cách giữa đôi vợ chồng trẻ càng tăng thêm. Họ giờ đây chỉ còn biết gởi niềm thương nhớ vào trong cảnh vật , mong được đến ngày gặp lại , vợ chồng sum họp , tận hưởng hạnh phúc bên nhau . Nhưng hiện thực cuộc sống tréo ngoe làm lòng người đau khổ . Nỗi buồn thương , day dứt đọng lại trong hai tâm hồn như chất chứa , dồn nén để rồi trào ra giữa nương dâu xanh mướt :
"Cùng trông lại mà cũng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu,
Ngàn dâu xanh ngắt một màu,
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?"

"Xanh xanh " là từ láy chỉ màu sắc gợi nên sự trùng điệp của "biết mấy ngàn dâu" . Màu xanh lạnh buốt tê tái cõi lòng , chất tầng tầng lớp lớp như chính nỗi niềm của đôi chinh phu - chinh phụ . Dường như ở họ có sự gặp gỡ , đồng điệu giữa cảm xúc và tình cảm , khi đã "cùng trông lại" để mong chờ một điều gì đó thân quen nhưng lại quá xa xăm bởi không gian ngăn cách quá lớn khiến họ không thể thoát ra khỏi chuỗi cảm xúc buồn thương ,mong nhớ . Càng cố mong ngóng, cố hy vọng khi "cùng trông lại" thì họ lại càng tuyệt vọng khi "cùng chẳng thấy" , thay vào đó là những nương dâu xanh ngắt nối tiếp nhau chất chứa nỗi niềm đau khổ , mong mỏi của người ở lại nhìn ra chân trời xa xăm mong tin chồng . Giữa không gian mênh mông bao la, nỗi niềm người chinh phụ đối diện với chính mình , với nỗi cô đơn , đau khổ không biết tỏ cùng ai , bất chợt bật ra thành lời như mang theo sự trách móc số phận , mang theo nỗi niềm bi thương :"Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai ?" . Câu hỏi vọng lên từ đáy lòng người chinh phụ thể hiện tâm trạng cô đơn , lẻ loi , mong nhớ của mình , nhưng cũng đồng thời cũng là câu hỏi chất vấn tầng lớp thống trị đương thời, lên án chiến tranh phi nghĩa đã gây ra bao đau khổ , vùi dập hạnh phúc lứa đôi và khát vọng sống trong tình yêu và hạnh phúc của con người.
Cả đoạn trích hiện lên chỉ với một chữ "sầu" . Nỗi sầu khi người phụ nữ phải lìa xa chồng , một mình đối diện với nỗi cô đơn đáng sợ, thui thủi với nỗi niềm bơ vơ , mong nhớ của mình . Nhưng cũng đồng thời qua đó gợi niềm thương cảm đối với số phận người chinh phụ và thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ nhớ chồng tha thiết ...

Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2009

Bình giảng đoạn trích cảnh chia ly

CHINH PHỤ NGÂM KHÚC


Đề bài : Bình giảng đoạn trích “ cảnh chia ly “
                                                           Tiếng địch thổi nghe chừng đồng vọng
                                                           Hàng cờ bay trông bóng phất phơ
                                                           Dấu chàng theo lớp mây đưa ,
                                                           Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà .
                                                           Chàng thì đi cõi xa mưa gió ,
                                                           Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn
                                                           Đoái trông theo đã mấy cách ngăn
                                                           Tuôn màu mây biếc trải ngàn núi xanh
                                                           Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại
                                                           Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang
                                                           Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương
                                                           Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng
                                                           Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
                                                           Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
                                                           Ngàn dâu xanh ngắt một màu
                                                           Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai ?





BÀI LÀM :


     Đến với “Chinh phụ ngâm khúc “ ta nhận ra được nỗi khổ của con người trong chiến tranh , thấm thía cái khát vọng mong manh về hạnh phúc lứa đôi . Mỗi câu thơ hiện hữu hay cũng là nỗi niềm người chinh phụ ngân lên trong từng cung điệu sâu thẳm , trầm lắng . Ngay từ khoảnh khắc chia ly _ thời khắc bắt đầu cho những tâm trạng u sầu , mòn mỏi về sau _ta đã cảm nhận được điều đó nhờ sự diễn tả một cách vô cùng tinh vi , sâu sắc nỗi lòng con người của nhà thơ .
     Những cuộc chia ly bao giờ cũng buồn , cũng nặng trĩu tâm tình kẻ ở , người đi . Nhà thơ đã khéo léo đưa vào tiếng sáo như một âm thanh đồng vọng , xốn xang :
Tiếng địch thổi nghe chừng đồng vọng
Hàng cờ bay trông bóng phất phơ .
Tiếng sáo như mang theo nỗi lòng của con người hòa vào không gian . Cả một khoảng trời chỉ có tiếng sáo vi vu còn con người thì lặng đi trong nỗi buồn . Tiếng sáo ấy nói hộ lòng người trong phút chia ly _ cái giờ phút vốn không dễ nói nên lời ! Người ta xa nhau , bất chợt nghe tiếng sáo mà như cảm được lòng nhau vậy . Không gian hiện lên với âm thanh của sáo , với bóng của cờ ,…, là ngọn cờ ra trận ! Đằng sau bóng cờ phất phơ kia thấp thoáng đôi mắt , ánh nhìn của người chinh phụ . Dường như nàng muốn tìm , muốn mãi dõi theo dấu chân của người chinh phu . Còn nhìn thấy nhau là họ vẫn còn ở gần nhau , đủ để lòng nàng vợi bớt cô đơn . Cái cảm giác chơi vơi , trống vắng tràn ngập khắp không gian . Xa nhau rồi mà lòng vẫn hướng về nhau , mà sao đôi mắt vẫn không thể quay đi , vẫn cứ đăm đắm tìm một bóng hình :    
                     Dấu chàng theo lớp mây đưa                           
Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà .
     Còn lại là gì sau đôi mắt đang mãi nhìn theo kia ? Khoảng cách ngày càng xa , bóng hình người chinh phu cũng trở nên mơ hồ , chìm hẳn vào không gian , biến mất nơi chân trời . Thu vào tầm mắt chỉ có núi , có cỏ cây . Để rồi cũng từ ấy người chinh phụ cảm thấy “ngẩn ngơ”. Một đôi mắt phải nhìn rất lâu , rất chăm chú mới trở nên ngẩn ngơ đến vô hồn như vậy . Mặc khác cũng có thể người chinh phụ có tâm trạng đó vì nghĩ về cảnh gia đình xa cách . “Nỗi nhà” sẽ càng trở nên vắng lặng hơn khi thiếu vắng người mình yêu thương . Người chinh phu rời nhà ra đi mà phía sau lưng là bao nỗi đợi chờ , bất an :
Chàng thì đi cõi xa mưa gió
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn
Đoái trông theo đã mấy cách ngăn
Tuôn màu mây biếc , trải ngàn núi xanh
     Chiến tranh khiến con người ta đang hạnh phúc phải xa nhau . Một người ra đi đến chiến trường xa xôi với bao nguy hiểm rình rập , bao vất vả gian nan . Còn một người phải ở lại , quay về chốn buồng cũ chiếu chăn _ nơi ghi dấu hạnh phúc lứa đôi mà giờ đây sao cô đơn vắng lặng , một người một bóng vò võ ngóng trông . Trong sự mường tượng về cảnh cô đơn mỏi mòn ấy ta nhận ra tấm lòng của một người vợ lo lắng cho chồng trước con đường đầy khó nhọc , hiểm nguy mà chàng sắp đi qua .
     Và dường như thiên nhiên bao la đã được đưa vào để lấp đầy khoảng trống xa cách giữa hai người . Lấp đầy hay cũng là tạo thành một vách ngăn cản trở những đôi mắt chan chứa yêu thương muốn níu giữ bóng hình người kia . Nỗi lòng của người chinh phu và chinh phụ trong giờ phút ly biệt được tác giả diễn tả song song . Mỗi một lần tâm hồn người chinh phụ dâng trào cảm xúc cũng là lúc người chinh phu ngổn ngang bao nỗi đa đoan . Cùng với màu mây biếc , màu núi xanh là sự hiện hữu của cả không gian bao la . Ở đó con người càng lúc càng đơn độc , nhỏ bé . Trời cao , đất rộng mà không còn người để sẻ chia , phải lạc lõng , bơ vơ.Lúc này có lẽ người chinh phụ còn đang đứng lặng ngẩn ngơ …!!!
     Giữa người chinh phu và chinh phụ như có một sợi dây ràng buộc , níu kéo họ lại với nhau . Chân bước đi mà đầu còn ngoảnh lại . Ngoảnh lại để thấy con đường mình đã đi qua , để nhìn thấy đâu là nơi mình đã ra đi hay để tìm hình bóng người vợ yêu dẫu biết là không thể . Cả hai , một người ngoảng lại , một người trông sang , đối lập nhau trong cấu trúc hai câu thơ nhưng chung quy lại cũng đều mong được nhìn thấy nhau . Tiêu Tương , Hàm Dương là khoảng cách ước lệ xa xôi mà chính bản thân Tiêu Tương đã hàm chứa sự ly biệt , buồn thương . ( Tiêu Tương là nơi rẻ nhánh thành hai con sông nên được xem như biểu trưng cho sự chia ly) :
                                                        Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại
                                                        Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang
                                                        Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương
                                                        Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng
     Bằng những hình ảnh tương phản phối hợp với các điệp từ và đảo vị trí của 2 địa danh tác giả muốn chia đều cảm xúc của hai người nhấn mạnh nỗi sầu xa cách. Đọc 4 câu thơ này, ta thấy tình cảm nhớ nhung cứ tăng dần, tăng dần. Điều đó cho thấy sự chia ly ở đây là sự chia ly về cuộc sống và thể xác, còn trong tình cảm tâm hồn hai vợ chồng ấy vẫn gắn bó thiết tha. Họ vẫn hướng về nhau, dõi theo để tìm nhau, nhìn thấy nhau. Nhưng càng hướng về nhau thì không gian và thời gian càng đẩy họ xa nhau. Do đó lời thơ không chỉ biểu hiện nỗi sầu chia ly mà còn nhấn mạnh sự oái oăm, nghịch chướng: gắn bó mà phải chia xa, càng dõi nhìn nhau càng không thấy nhau.“Cùng trông” mà “cùng chẳng thấy “ . Không thấy được nhau nhưng tâm hồn họ đã tìm gặp được nhau , thấu hiểu cho tâm trạng của nhau. Có cái gì đó luyến tiếc mơ hồ trong khoảng cách . Tính từ “xanh xanh” được đảo ngữ đặt lên phía trước làm rõ hơn cho cái không gian chỉ có một màu xanh tâm trạng :
                                                        Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
                                                        Ngàn dâu xanh ngát một màu
                                                        Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai ?
     Hai câu thơ diễn tả màu xanh được lặp lại là cách mà nhà thơ đưa nỗi buồn tăng tiến lên đến tầng tầng lớp lớp trong lòng người chia tay . Thật sự con người đang trong một hoàn cảnh buồn đau đến vô cùng . Để rồi đến cuối đoạn trích người chinh phụ thốt lên một câu hỏi mơ hồ :” Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai”
    Câu hỏi ấy tạo cho ta cảm giác lơ lửng, chơi vơi . Nó vừa như bỏ dỡ mà thật sự đã khép lại, thâu tóm toàn bộ nỗi lòng con người . Một chữ “sầu” thôi nhưng sức ảnh hưởng của nó thì rất lớn. Chia ly, ai chẳng buồn chẳng sầu? Nhưng sao vẫn thấy cái nỗi sầu của người chinh phụ khác quá đỗi, nó nặng trĩu tâm tư . Phải chăng ly biệt cũng là vĩnh biệt . Biết đâu đây lại là lần cuối cùng họ được nhìn thấy nhau . Bỡi lẽ chiến tranh có mấy ai sống sót quay về ? Hỏi đấy nhưng cũng là khẳng định đấy thôi !  




   Trần Thái Diễm Chi _ 10 Văn K11