CHÀO MỪNG

Chào mừng bạn đến với blog Học Văn của học sinh trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn Bình Định - Mọi thông tin liên hệ, đóng góp bài vở, xin gửi về vankhoa11@gmail.com hoặc liên hệ trực tiếp với lớp trưởng Chuyên Văn khoá 11 Đỗ Lê Bảo Duyên - LPHT Trần Thái Diễm Chi
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn khoá 11. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn khoá 11. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 15 tháng 2, 2011

Hành hương về nguồn cội


Hành hương về nguồn cội…
• Trần Hà Nam
Những ngày đầu xuân Tân Mão 2011, thầy trò lớp chuyên 11 Văn – Anh Lê Quý Đôn Bình Định chúng tôi đã làm một chuyến hành hương về nguồn cội ở hai huyện Tây Sơn và An Nhơn. Trời nắng đẹp, dọc theo lộ trình, hai bên đường sắc lúa đông xuân xanh mơn mởn, và sắc mai vàng đến giờ mới bừng tươi…
Điểm đến đầu tiên là cụm tháp Dương Long thuộc xã Tây Bình (Tây Sơn), di tích văn hóa Chàm đẹp bậc nhất Bình Định đang được trùng tu. Cụm tháp có mỹ danh là Tháp Ngà sừng sững trên khu đồi, dấu tích thời gian hoen trên màu gạch. Những khối đá lặng câm nhưng chứa đựng bao nhiêu huyền tích một thuở của nền văn hóa Chàm rực rỡ. Các phù điêu trên đá bị bào mòn, bị hủy hoại khá nhiều nhưng vẫn lộ ra nét chạm khắc tinh xảo. Không có người thuyết minh, thầy đành phải huy động hết những hiểu biết hạn hẹp về văn hóa Chàm, những kiến thức thu lượm từ thời sinh viên đã từng được nghe chính người địa phương kể lại để chỉ cho học trò biết các biểu tượng tâm linh: rắn thần Naga, tục thờ sinh thực khí qua dấu tích Yoni còn khá nguyên vẹn, kỹ thuật xây tháp của người Chiêm Thành... Lòng mong mỏi một ngày nào đó quay lại sẽ chứng kiến một công trình được phục chế tương đối vẹn nguyên, không có quá nhiều dấu ấn của thời hiện đại can thiệp làm mất đi nét hoang sơ nguyên thủy của di tích.
Từ Tây Bình, xe đưa chúng tôi đến thẳng bảo tàng Tây Sơn ở xã Bình Thành. Quần thể di tích liên quan đến Tây Sơn tam kiệt càng lúc càng được tôn tạo khang trang, thể hiện lòng kính ngưỡng của mọi người với anh em nhà Tây Sơn. Nhà thơ Trần Viết Dũng, một người Tây Sơn chính gốc đã chờ khá lâu, để thân chinh làm người hướng đạo cho các cháu biết rõ về nguồn cội Đất Vua. Cả đoàn vào điện thờ Tây Sơn tam kiệt, kính cẩn dâng hương các ban thờ. Chính giữa điện là tượng của ba Ngài: Thái Đức hoàng đế bên trái, Quang Trung hoàng đế chính giữa và Đông Định vương bên phải. Các pho tượng được dát một lớp vàng mỏng, sáng rỡ uy nghi. Bình thường, các học trò hiếu động là thế, nhưng khi đứng trước các bậc tiền nhân làm rạng danh xứ sở, tất cả đều trang nghiêm thành kính. Những tượng thờ văn thần võ tướng được tạc sống động, tạo nên không khí như một buổi thiết triều nghiêm cẩn. Thầy trò đã đến được với mảnh đất thiêng, được uống nguồn nước trong mát ngọt lịm từ giếng Tiên không bao giờ cạn mạch, được ngồi dưới bóng cây me cổ thụ hơn 300 năm, lòng chợt thấy nhẹ nhàng khoan khoái như tan biến hết cảm giác mệt mỏi. Bảo tàng Tây Sơn được bố trí khá khoa học, nhiều hình ảnh hiện vật quý giá và các sa bàn, mô hình được trưng bày phong phú giúp cho du khách có thể hình dung toàn cảnh về thời đại Tây Sơn: từ họ Hồ cùng gốc gác với nữ sĩ Hồ Xuân Hương đất Nghệ An phát triển thành nhánh vào miền Trung, dừng chân ở miền đất Bình Khê để rồi thành ba anh em nhà Nguyễn Tây Sơn, ứng câu sấm Trạng Trình “Tây khởi nghĩa, Bắc thu công”. Những di tích biết nói, để các thế hệ hậu sinh hiểu thêm về truyền thống Kinh – Thượng một lòng, về sức mạnh của những dân nghèo tập hợp dưới ngọn cờ Nguyễn Nhạc, từ thượng đạo tới hạ đạo Tây Sơn phát triển thành phong trào nông dân mạnh như vũ bão, đánh tan thù trong giặc ngoài, chói sáng tên tuổi người anh hùng bách chiến bách thắng Quang Trung hoàng đế về sau. Nhà thơ Trần Viết Dũng say sưa giảng giải về những vũ khí chứng tỏ sức sáng tạo của quân đội Tây Sơn làm kinh hoàng bạt vía kẻ thù: súng điểu thương, hỏa hổ, thần công… Còn đây, bút tích của vị hoàng đế tài ba gửi cho danh sĩ Bắc Hà là La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, còn đây lời hịch vang dậy hào khí: “Đánh cho để dài tóc – Đánh cho để đen răng – Đánh cho nó chích luân bất phản – Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn – Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ!”. Một thời đại ngắn ngủi nhưng đã kịp ghi lại những thành tựu văn hóa – kinh tế: tượng La Hán chùa Tây Phương, tiền Quang Trung thông bảo,…Thời gian ngắn ngủi không cho phép nán lại lâu, khi ra về, thầy trò ngắm mãi phiên bản bức tượng vua tôi Quang Trung hoàng đế tại chùa Bộc (Hà Nội), càng ngắm càng khâm phục thần thái của người anh hùng áo vải đã được nghệ nhân lưu mãi lại với thời gian: nét phong trần của người xông pha trận mạc, vẻ giản dị không ngờ đậm chất quê kiểng Bình Định. Dưới tượng đài Quang Trung, trước phút chia tay, nhà thơ Trần Viết Dũng lại làm sống dậy hình ảnh Quang Trung qua bài thơ “Vua và Em” của anh – một quân vương đa tình, hào hoa mà mộc mạc, chân tình: “Xưa hoàng đế để ria con kiến – Rất thời trang và rất phong trần – Nên chi con gái thăng Long ấy – Cứ phập phồng ngực công chúa Ngọc Hân…”
Từ Phú Phong xuôi về An Nhơn, điểm dừng chân cuối cùng của thầy trò chúng tôi là di tích thành Hoàng Đế của người anh cả trong tam kiệt: Thái Đức hoàng đế Nguyễn Nhạc. Cung điện đã hoang tàn, chỉ còn trơ nền gạch cũ, nhưng còn đó cặp voi đá trên đường vào thành nội, còn những con nghê đá như chứng tích một thuở hào hùng. Dấu ấn của lần khai quật di chỉ gần nhất làm lộ ra nền cung điện, hồ bán nguyệt lẫn vào nền đất khiến người viếng thăm không khỏi xót xa về sự hủy hoại, trả thù tàn khốc của nhà Nguyễn Gia Miêu muốn xóa sạch chứng tích Tây Sơn trong lòng người Bình Định. Nhưng lòng tôn kính của người dân đất này vẫn bền chặt, bắt rễ vào mạch đất, vững chãi như những cây sung, cây bồ đề cổ thụ từ thuở xa xưa vẫn sống vững chãi, bất chấp sự tàn phá. Trớ trêu thay, cũng chính tại nơi đây, lăng mộ của Võ Tánh vẫn còn nguyên, như chứng tích cho tinh thần mã thượng của người chiến thắng – danh tướng Trần Quang Diệu nhà Tây Sơn. Mới thấy, tướng lĩnh Tây Sơn dẫu xuất thân từ chốn thôn dã, vẫn có sẵn tinh thần nhân văn và thượng võ, đối đầu quyết liệt nơi chiến trường nhưng vẫn rất tôn trọng đối phương vì lòng tận trung với chúa. Hai thái độ ứng xử, lịch sử còn để lại bao bài học hay!
Một chuyến dã ngoại ngắn ngủi, thầy trò chúng tôi được tận mắt chứng kiến những dấu tích trên mảnh đất quê hương giàu truyền thống lịch sử - văn hóa. Những hình ảnh lưu lại khoảnh khắc khó quên sẽ giúp các em tự hào hơn về quê hương mến yêu, hiểu thêm về đất và người Bình Định.
14.2.2011
T.H.N
Ảnh: https://picasaweb.google.com/Namlqd/DuXuan2#

Chủ Nhật, 13 tháng 2, 2011

Hoạt động dã ngoại 11VA

Hình ảnh lớp 11 Văn - Anh hoạt động dã ngoại tại Tây Sơn và An Nhơn - hai địa phương giàu truyền thống lịch sử - văn hóa của tỉnh Bình Định


Du xuân 2

Thứ Ba, 8 tháng 2, 2011

Cái tôi trữ tình của Huy Cận

  • ĐỖ LÊ BẢO DUYÊN

Nỗi buồn của nơi quán chật đèo cao, của sông dài trời rộng, nỗi buồn
của đêm mưa cô đơn hiu hắt, trong niềm nhớ thương trải ra cùng với
những hồn thơ hoang mang, nặng trĩu một nỗi sầu cho suốt một thời kì
rất buồn và cũng rất xôn xao. Với Huy Cận, những nỗi buồn ấy như triền
miên, day dứt hơn bao giờ hết khi tiếng của điệu hồn thiên cổ cất lên,
làm cho mạch sâu ngàn năm chợt da diết, chơi vơi.

Thứ Hai, 24 tháng 1, 2011

Tràng giang- Bài viết của Hồ Minh Tú

   “Ông không làm mê ta bằng màu sắc và âm điệu;ông có một sức quyến rũ lạ lùng hơn, khó hiểu hơn; là mùi thơm…;thơ ông không phải là rượu rót vào chén, thơ ông là men đương lên,…”- cái men thơ Huy Cận đã từng làm say ông hoàng thơ tình Xuân Diệu.Thi sĩ xuất hiện giữa làng thơ Việt Nam lúc ấy làm chếnh choáng bao tâm hồn khao khát đồng điệu. Huy Cận đã mang cái hương vị rất riêng của ông vào trong thơ, cái “hồn buồn Á Đông” man mác, mà thấm thía trong từng dòng chảy “Tràng Giang”.
     Người sinh ra trong thế kỉ đau buồn của dân tộc. Cũng như bao lớp người trẻ tuổi lúc đó, trước thực tại bế tắc, thi sĩ không khỏi hoang mang, mất niềm tin vào cuộc đời. Người đã trút mọi nỗi niềm vào thơ ca, nên mỗi tác phẩm đều là mỗi lời tâm tình tha thiết, từ đáy lòng vang ra, dội ngược vào trong đáy lòng- cái thế giới cô đơn đầy ám ảnh của ông. Có lẽ bởi đồng cảnh ngộ, tâm thế chung của các nhà thơ Mới đã thấm thía một cách đầy đủ trong ông nhưng không phải vì thế mà ông trở nên mờ nhạt , tiêu tan. Đã từng có một Xuân Diệu “sôi nổi, bồng bột”; một Chế Lan Viên “kì dị’’, một Hàn Mặc Tử “đau thương” đến điên cuồng, một Nguyễn Bính bình dị, chân quê,… làm rung chuyển nền móng thơ vốn cũ kỹ, sáo mòn trước kia, thay vào đó là những cảm xúc mới mẻ, tinh vi.        Huy Cận không là ai nhưng cái tôi trữ tình trong thơ ông có dấu ấn đậm nét đối với người đọc, mà nói như Hoài Thanh, đó là sức mạnh kì lạ của một tâm hồn “ảo não như Huy Cận”. Cùng một số bài thơ khác trong phong thơ Mới,Tràng Giang để lại ấn tượng khó phai  theo thời gian, tưởng chừng bây giờ vẫn còn nguyên vẹn cái hồn buồn não nề ấy, tha thiết gọi về.
    Xưa kia, trên bến Tràng Giang, bao li khách sắp sửa ra đi mà lòng không khỏi bồi hồi, xao xuyến bởi cảnh sông nước xa xăm kia gợi lại. Nay, đứng trên bến con sông Hồng quê nhà, không phải đi xa nhưng dường như Huy Cận cũng mang tâm trạng của li khách thuở
nào, mà nhớ thương, mà luyến tiếc một nỗi niềm không tên. Những tình cảm ấy dâng đầy trong ông, để tứ thơ cứ miên man chảy mãi:
                           “Sóng gợn Tràng Giang buồn điệp điệp,
                             Con thuyền xuôi mái nước song song,
                             Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
                             Củi một cành khô lạc mấy dòng.”
    Ngay từ khổ đầu đã thấy hiện lên những hình ảnh đầy u buồn. Dòng sông, con thuyền, cành củi khô quen thuộc trong cổ thi lại hiện về nhưng không thấy những ước lệ sóng đôi về con thuyền- bến nước,… như xưa. Thay vào đó là sự hiện hữu rời rạc của cảnh vật. Những con sóng không buồn nhấp nhô, hòa mình vào sông lớn mà cứ chậm rãi từng gợn nhẹ, từng gợn nhẹ, rồi biến mất trong dòng chảy mênh mông. Nhịp điệu buồn tẻ ấy cứ lặp đi lặp lại, “điệp điệp” , làm nỗi sầu như kéo dài thêm, triền miên, vô tận. Con thuyền cũng không buồn lái, để mặc xuôi theo dòng nước lặng lờ. Ngay cả dòng nước trong bản thân con sông cũng không thiết đến nhau, cứ âm thầm mà chảy ‘:song song”, vờ không quen biết nhau trong đời. Từ những hiện tượng tưởng như vô tri vô giác đó, Huy Cận đã khiến người đọc hình dung ra một thế giới có thật của sông nước với tình cảm dửng dưng như con người. Là bởi con mắt nhà thơ nhạy cảm quá, nên thấy đâu cũng một tình cảnh như mình. Không những vậy, đối với chia li, người lại có dự cảm tinh tế hơn. Người thấy trong dòng nước,mà ta có thể tạm liên tưởng đến dòng đời kia, sự cách biệt không thể nào tránh khỏi. Đến một lúc nào đó, trên cuộc hành trình của mình, chỉ còn nước mải miết trong cô độc. Vốn lòng sông đã rộng thênh thang, nay lại thêm dài ra, rộng ra bởi nỗi “sầu trăm ngả” của dòng nước. Trơ trọi lại càng thêm trơ trọi , rời rạc lại nối tiếp rời rạc, cành củi khô một mình lạc lõng giữa dòng chảy, không biết đi đâu về đâu gợi nỗi chua xót thân phận xiết bao! Không phải là một “bông hoa tím biếc” “mọc giữa dòng sông xanh”(Thanh Hải) mà là nhành củi khô ráo hoảnh sự sống, một nhành củi rỗng ruột, vô vọng. Nó thay lời tác giả với cuộc đời, như khúc ru buồn vẫn tiếp tục điệu nhạc réo rắt, thê lương của nó:
                                  “Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
                                    Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.
                                    Nắng xuống, trời lên sâu chót vót.
                                    Sông dài, trời rộng bến cô liêu.”
     Đến đây, bài thơ mới thấy xuất hiện những âm thanh đầu tiên. Nhưng trước hết phải nói đến khung cảnh nơi mà âm thanh đó được lắng nghe: trên cồn đất nhỏ, xung quanh không có một sự trỗi dậy nào to lớn hơn. Bốn bề không gian bát ngát với núi non hùng vĩ, sự tồn tại của gò đất càng thêm cô độc, lẻ loi . Sở dĩ ta có thể nhìn được toàn cảnh vậy là vì Huy Cận đã phát huy hết mọi giác quan của mình để đặc tả “cồn đất”,từ đó gợi lên sự rợn ngợp của không gian. Nhà thơ có lần bộc bạch rằng chữ “đìu hiu” là học được từ Chinh phụ ngâm: “Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò”. Đến Huy Cận, nó phảng phất nét cổ điển nhưng cũng mang cảm giác hắt hiu, đơn côi của cái tôi thi sĩ trước thời cuộc. Trạng thái “lơ thơ” cho thấy vẻ tiêu điều, xơ xác đã phủ trùm lên cảnh vật và chiếm lĩnh thế giới nội tâm nhà thơ. Ta thấy rất rõ cảm quan về không gian vũ trụ vô tận của tác giả, mà trong đó sự sống bé nhỏ càng thêm đơn độc hơn, như bị bỏ rơi giữa cuộc đời. Điều đó cắt nghĩa rằng, trong thế giới của riêng mình, Huy Cận không phải đã xóa sạch những dấu ấn của thơ xưa, mà vẫn giữ lại những nét đẹp, những nét thi vị để giãi bày tâm tư. Đặc biệt là thủ pháp “lấy động tả tĩnh” được thi sĩ đan cài khéo léo vào thơ mình, tạo cho cảnh vật nét gần gũi và đượm tình hơn . Ấy là “tiếng làng xa” vọng về, thứ âm thanh mơ hồ của một phiên chợ đã vãn theo gió lan xa mãi. Nhưng ở nơi “đâu” thì tác giả không xác định được. Những âm vang yếu ớt ấy rồi cũng chìm và cảnh chiều hư vô, càng gợi thêm sự vắng vẻ, hiu quạnh nơi đây. Không gian trở nên tịch mịch, u uất . Nó trái hẳn với tiếng “lao xao” thuở nào Nguyễn Trãi ẩn dật nơi thôn quê lắng nghe được. Nó mồ côi, trống vắng. Để lại trong lòng người đọc cảm giác rờn rợn khó hiểu. Có người cho rằng Huy Cận dễ buồn quá, lại đứng trong cảnh chiều buồn nên mới sinh ra những câu thơ âu sầu vậy. Nhưng tôi tin là tự trong lòng người đã chất chứa đầy nỗi buồn nên nó thấm vào cả từng cảnh vật, lan ra bao phủ khắp không gian. Mọi sự cũng buồn theo. Bởi vậy mà trong những hình hài tưởng như rất mới mẻ, vui tươi, người lại thấy nỗi buồn: “ Nắng xuống, trời lên sâu chót vót”. Thật vậy, nắng không ủ rũ, trời không ủ dột nhưng chính sự vận động của chúng tạo nên một khoảng cách không thể nào lấp đầy. Bình thường, đáng lẽ là chiều cao, cao vời vợi nhưng nhà thơ đã tài tình biến nó thành chiều sâu, sâu chót vót để chứa đựng nỗi sầu não vô biên của mình. Người lại thấy bến đợi của một mình mình, mất hút giữa cái rộng lớn khôn cùng của trời đất, mang tên cô liêu. Người cho ta đi mãi, đi mãi để rồi lại gặp người cô quạnh, và người tự bắt gặp mình… Nơi đó cảnh thật đẹp, nhưng buồn và lạnh lẽo quá, nên càng gặp mình thi sĩ lại càng run sợ và ớn lạnh hơn. Cuộc nói chuyện với lòng mình trong hoàn cảnh cô đơn chẳng khác nào dày vò tâm hồn thêm đau đớn. Nó trăn trở không ít lần trong Huy Cận, khiến cho nhiều bài thơ khác của người cũng mang dáng dấp của “Tràng Giang”, đẹp nhưng lạnh lẽo:
                                       “Ngập ngừng mép núi quanh co
                                 Lưng đèo quán dựng, mưa lò mái ngang.
                                          Vi vu gió hút nẻo vàng;
                                  Một trời thu rộng, mấy hàng mây nao.”
      Cảnh vật thiếu vắng tình người, không có một chút sự xuất hiện của con người. Bà Huyện Thanh quan trước kia chạnh lòng vì cảnh thung lũng hoang vắng, cũng còn nhận thấy sự hiện diện của con người dù là thưa thớt “Lom khom dưới núi tiều vài chú- Lác đác bên sông chợ mấy nhà”(Qua đèo Ngang). Còn với Huy Cận thì tuyệt nhiên chỉ có cảnh với cảnh, ngay cả cái “quán dựng” cũng chẳng hi vọng được thấy sự sống, dù chỉ là mong manh. Chỉ có những nét vẽ quanh co của tạo hóa, với gió, với mưa và bầu trời ăm ắp mây hòa quyện trong một bức tranh hữu tình. Nhưng cảnh đẹp chỉ để gió và thời gian bào mòn mà không có người thưởng thức thì liệu có còn ý nghĩa gì nữa? Phải chăng, Huy Cận đã mượn những nỗi buồn vẩn vơ đó để gửi tâm sự gì kín đáo sâu bên trong, mà một tâm hồn đầy phức tạp như ông không thể nào diễn tả hết bằng lời?
      Nhưng chưa dừng lại ở đó, cái tôi của thi sĩ còn đi sâu hơn nữa vào ngọn nguồn của sự cô đơn:
                                    “ Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;
                                       Mênh mông không một chuyến đò ngang.
                                       Không cầu gợi chút niềm thân mật,
                                       Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.”
     Những cánh bèo nối nhau trôi lênh đênh trên dòng chảy vô định. Không phải vô lí khi cho rằng nhà thơ có chút tủi hờn, oán trách số mệnh. Cũng như bèo kia, thân phận của những con người sinh ra phải chịu chung kiếp nô lệ của dân tộc mình, đất nước mình chẳng mong một tiền đồ tươi sáng. Đau khổ, nhục nhã nhưng bất lực trước thời cuộc rối ren, người trẻ tuổi dễ cảm thương những kiếp sống như mình, “bèo dạt mây trôi”. Huy Cận còn thấy sâu trong đó, cái toàn cảnh của cuộc đời: tất cả mối dây liên lạc đều bị cắt đứt, mọi sự liên hệ chỉ còn là ảo ảnh, quá khứ. Dòng sông rộng vô cùng nhưng không có lấy một con đò, một chiếc cầu để nối liền giữa hai bờ. Cho đến đây, bài thơ đã lần lượt dẫn dắt người đọc đến những khung cảnh đẹp nhưng càng về sau càng buồn, càng trống trải. Giả sử bài thơ đơn thuần chỉ vẽ nên những bức tranh như thế và chấm hết tại đây thì khó lòng gây được dư vị sâu sắc trong lòng người đọc. Khổ cuối cũng chính là khổ thơ hé mở cho người đọc biết điều gì thật sự ẩn sau trái tim đa sầu đa cảm ấy của nhà thơ:
                                    ‘ Lớp lớp mây cao đùn núi bạc’
                                      Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
                                      Lòng quê dợn dợn vời con nước,
                                      Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”
    Có thể nói cảnh vật hiện lên ở khổ cuối là cảnh vật cô đọng nhất nhưng cũng hàm chứa nhiều ý nghĩa nhất. Tầng tầng lớp lớp những áng mây chồng chất lên nhau như chất chứa cả nỗi niềm ẩn khuất của nhà thơ. Động từ “đùn” diễn tả trạng thái hoạt động tràn đầy sức sống, ánh sáng chiếu vào lấp lánh như màu bạc. Cả bài thơ chỉ có mỗi dòng này le lói sự sống tươi mới, rực rỡ. Nhưng ngay câu thơ sau lại lên cảnh khác trái ngược hẳn: bóng chiều buông xuống đè nặng lên cánh chim bé nhỏ, lạc lõng giữa bầu trời rộng thênh thang. Dường như có nét gì tương đồng với những lớp mây dày trên kia, cánh chim có thể hiểu như hình tượng ám chỉ những thân phận chơ vơ giữ dòng xoáy cuộc đời, mà nhà thơ là một trong số đó. Trách nhiệm, bổn phận và những nỗi lo âu như bóng chiều của ngày tàn khiến cho cánh chim mỏng mảnh như chao nghiêng vì sức mạnh. Dầu là những dựu cảm mù mịt về tương lai nhưng ít ra nó cũng gợi cho nhà thơ mối liên hệ với cuộc đời dường như chỉ chứa đựng toàn mâu thuẫn kia. Cũng vì vậy, nó cho ta chiếc chìa khóa khám phá sự thật đang diễn ra trong lòng nhà thơ: tấm lòng yêu nước kín đáo. Chẳng vậy, dầu đang đứng ngay trên mảnh đất quê hương mình, mà tác giả vẫn nhớ thương quê nhà, có lẽ là một khung cảnh bình yên trong quá khứ. Vì chưng giờ đây dấu chân giặc đã giày xéo trên mồ mả cha ông, tấm lòng nào còn trọn vẹn thủy chung thì chỉ còn biết giữ cho mình một nỗi nhớ thương. Cái nỗi niềm “ dợn dợn” ấy của thi sĩ mới thật tinh nhạy và đáng quý biết bao. Kết thúc bài thơ nhưng dư âm cứ mở ra mãi bởi làn “khói hoàng hôn” không có thật, mà trong lòng người lại thấy hiện lên thật cái cảm giác đau buồn, nhung nhớ. Câu trả lời đến đây mới sáng rõ, cái tôi tưởng như muốn xa lánh cuộc đời ấy lại là một cái tôi khao khát gắn bó với đời biết bao nhiêu. Huy Cận thi sĩ thật khéo léo khi cất giấu cái tình tràn đầy của mình vào nỗi sầu câm lặng, triền miên vô bến.
    Có đọc hết những bài thơ khác trong tập Lửa thiêng của Huy Cận mới thấu rõ cái buồn ấy không phải là nhất thời. Trong phong trào Thơ Mới, người là thi sĩ ôm nỗi buồn nhiều nhất: sầu thương, sầu nhớ, sầu đau. Với người thời gian kéo dài tới “vạn kỷ”, “ngàn xưa”, cái thời gian của quá khứ để ghi dấu cho những tình cảm bất biến, vĩnh hằng. Thế nhưng, hiện tại vẫn cứ phơi bày, càng trốn tránh thi sĩ càng vấp váp sự đời, tình đời. Cho nên cái buồn của người là buồn thiên cổ, luông thường trực đến não nề. Bất cứ khi nào hồn buồn của người va chạm với cảnh vật, thì tình lại tuôn trào:
                                   “ Tai nương nước giọt mái nhà,                    
                            Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn.”
                                                                            (Buồn đêm mưa)
   Người lắng nghe tiếng nước nhỏ giọt trên mái nhà, từng tiếng một rơi chậm rãi, nặng nề mà liên tưởng đến ngay trời xanh kia cũng chung một nỗi niềm u ám, thì quả là người dễ mẫn cảm với nỗi sầu. Câu thơ như kéo chùng xuống bởi điệp từ hai lần xuất hiện, nhân đôi tình người chất chứa bên trong. Bao giờ ta cũng thấy thiên nhiên trong thơ người tự đã mang vẻ hiu hắt, lặng thầm, như ấp ủ điều gì trước cả con người. Đó là bởi nét bút tài hoa của thi sĩ, người luôn tạo dựng, kết hợp chúng với nhau theo phong cách của riêng mình, bày tỏ hộ tấm lòng người.Dẫu rằng cái tôi buồn, cô đơn, yếu đuối và nghạo nghễ là cái dấu vết mà bất kì nhà Thơ Mới nào cũng từng hằn lên thơ mình, nhưng với Huy Cận thì rõ ràng, cái buồn được thiên vị hơn, ưu ái hơn.Đến nỗi chẳng cần phân bua, giải thích gì, thi sĩ cũng được người đời gán cho phong độ buồn… đến não nuột. Lắm khi thấy người buồn vô cớ nhưng tâm thì vẫn cứ bất động, không để lộ một cử chỉ gì quá khích ,dù là một cái nhíu mày, một nét mặt chán nản. Thay vào đó là những ánh nhìn khắc khoải hơn, có nhìn sâu vào trong mới phát hiện được. Ấy vậy mà đôi lúc không kìm nén được người đã thảng thốt bật ra lời ai oán đầy chua xót của mình:
                                      “Ai chết đó? Nhạc buồn chi lắm thế!
                                        Chiều mồ côi đời rét mướt ngoài đường
                                        Phố đìu hiu màu đá cũ lên sương’
                                        Sương hay chính bụi phai tàn lả tả.”
                                                                                    (Nhạc sầu)
     Đặt câu hỏi hòng vơi lấp nhưng thi sĩ che sao nỗi yếu đuối đang bóp thắt con tim người. Tự vấn hay để thấy đời bi lụy đến chừng nào? Một thi sĩ khéo giấu tâm sự tâm sự riêng như Huy Cận mà cũng có lúc bi quan đến thế. Bởi lẽ, nỗi thương cảm của nhà thơ với đồng loại dường như vô nghĩa với riêng người khi ngoài kia vẫn tiếp tục những số phận khổ đau, yếu ớt chống cự với cuộc đời. Tâm sự đó khiến cho một buổi chiều vô hình trở thành hữu hình, có thân phận nhưng là thân phận thiệt thòi: mồ côi. Trong con mắt thi sĩ, cái nghĩa lí của cuộc đời đã băng giá, vì tình người cũng thiếu vắng, lạnh lùng như tiết trời giá rét kia. Lại một lần nữa, ta thấy cảnh “đìu hiu” xuất hiện trong thơ Huy Cận. Nhưng giờ đây nó lại ghi dấu chiêm nghiệm cay đắng của tác giả, dù chỉ rất mờ ảo. Người đã khám phá ra qui luật phai tàn của cuộc đời. Một ngày kia, “màu đá cũ” sẽ bị khuất lấp mất giữa muôn trùng cơn bão cát thời gian. Đâu đấy, người ta dễ liên tưởng đến cái ngắn ngủi của kiếp người, đột ngột tan biến mất.Phải chăng Huy Cận buồn vì lẽ đó?r Đúng nhưng vẫn chưa đủ, cái mà người thật sự sợ không phải là cái chết mà là sự lãng quên.Vì thế sự phai tàn tong mắt người là mất đi ý nghĩa đối với người khác trong đời. Sợi dây mỏng manh duy nhất níu kéo thi sĩ trở về chính là ân tình còn vương vấn ở đời. Vì chưng không phải hết thảy thực tại đầu là điều xấu xa, bạc bẽo mà vẫn còn xót lại những tâm hồn dạt dào mãi cô liêu như người. Đó là đôi phút hiếm hoi, người tìm thấy nét đáng yêu đời ban tặng : tình yêu trong sáng, thánh thiện:
                                      “Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong
                                        Hôm xưa em đến mắt như lòng.
                                        Nở bừng ánh sáng.Em đi đến
                                        Gót ngọc dồn hương, bước tỏa hồng.”
                                                                                    (Áo trắng)
    Huy Cận khi yêu cũng rụt rè, e  thẹn như ai. Những rung động đầu đời khiến cho người tình thi sĩ trở nên rực rỡ, đẹp lộng lẫy hơn bao giờ hết. Màu áo trắng trong như tình em. Mỗi bước đi của em tỏa hương thơm ngát, dịu dàng mà gieo vào lòng anh bao xuyến xao. Ai có ngờ được “ chàng Huy Cận khi xưa hay buồn lắm” lại tươi trẻ thế trong tình yêu. Cái vẻ ông cụ non, già đời biến đâu mất. Chỉ còn Huy Cận hết lòng với tình yêu, yêu chân thành, nâng niu từng giây phút. Không rạo rực băn khoăn như bạn thơ Xuân Diệu , mà tình Huy Cận đằm thắm, e ấp. Người không đòi hỏi được ôm trọn tình yêu mà chỉ lặng thầm yêu bởi . Người sợ rồi tình yêu sẽ không bền vững, nên càng tha thiết thì càng đau đớn lúc vỡ tan. Ngay cả khi còn yêu, người cũng thấy vời vợi nỗi xa cách, cắt chia:
                                    “Tương tư đôi chốn, tình ngàn dặm
                                       Vạn lí sầu lên núi tiếp mây”
                                                                        (Vạn lí tình)
    Thế nhưng vẫn không sao tránh khỏi bùi ngùi, xót xa khi đối mặt với sự thật phũ phàng:
                                    “ Chân hết đường thì lòng cũng hết yêu.”
                                                                        (Đi giữa đường thơm)
    Những lời thơ tưởng như rất bình thường, thản nhiên nhưng lại ẩn chứa nhiều đau thương nhức nhối nhất. Chẳng cần khóc lóc, kêu gào thảm thiết mà có những vết thương cắt sâu hơn nữa, quặn thắt, nuốt ngược nỗi đau vào bên trong. Có thể đã chạm phải quá nhiều tổn thương ở cuộc đời mà người khiến lòng mình như tĩnh lặng bằng nỗi sầu miên man. Kì thực là để đau thương không còn dậy sóng. Nhưng sao trách được cái hồn đầy yêu thương của người, thi thoảng gợn dậy mối đồng cảm sâu xa.
    Có thể nói, giải mã hết những bí ẩn của hồn thơ Huy Cận quả là điều không dễ dàng chút nào. Nhưng ít nhất, đọc người , ta cũng hiểu được mình và đời hơn. Thơ người thấp thoáng phong vị Đường thi trong những đường nét cổ điển mềm mại, uyển chuyển nhưng cũng tiếp thu cái mới trong hình thức câu chữ, cấu tứ phóng khoáng, tự do của thi ca hiện đại. Cái tôi của người vừa ẩn vừa hiện, vừa như tan ra mênh mang khắp cảnh vật. Bên cạnh những hình ảnh quen thuộc của ca dao, thơ xưa,thi sĩ còn sáng tạo ra những hình tượng mới mẻ, sự kết hợp mới lạ: chiếc áo trắng tượng trưng cho tình yêu đầu, nắng xuống- trời lên,… Tất cả kết tinh lại trong nỗi sầu nhiều màu nhiều vẻ làm nên hồn thơ khó quên của thi s Huy Cận. Êm đềm, dịu dàng mà ám ảnh mãi bởi những tâm tư sâu kín bên trong.
    Với Lửa Thiêng, Huy Cận đã đóng góp cho thơ Mới một viên ngọc quý, đêm bầu bạn cùng những tâm hồn đang rơi vào tuyệt vọng, bế tắc lúc bấy giờ. Để nhận ra rằng ta cô đơn nhưng không mình ta giữa cuộc đời này, mà có bao hồn khác cũng ước mơ yêu thương như ta. Dẫu rằng có phần tiêu cực, yếm thế nhưng Thơ Mới nói chung, thơ Huy Cận nói riêng đều là tiếng nói tha thiết của người con dân tộc, đau nỗi đau quê hương.Bởi vậy vai trò tiền đề đối với nền thơ ca Cách mạng sau này là không thể phủ nhận, góp phần làm phong phú,dồi dào hơn cho dòng chảy văn học Việt Nam.

Thứ Bảy, 17 tháng 7, 2010

CẢM NHẬN VỀ TÌNH QUÊ TRONGTHƠ TẾ HANH

  • TRẦN THÁI DIỄM CHI
(11CV LÊ QUÝ ĐÔN)
Con đã đi qua hơn một miền quê, con đã đến những chân trời xa tít và dù ở đâu con cũng nghe, cũng thấy những con người gọi chốn đó là quê hương .

            Con cũng đã đi qua một thời trẻ dại, con không còn ngây thơ và quá đỗi hồn nhiên đến mức hỏi mẹ rằng:

                                                Quê hương là gì hở mẹ?
                                                Mà cô giáo dạy phải yêu
                                                Quê hương là gì hở mẹ?
                                                Ai đi xa cũng nhớ về !

          Con biết cái gì là quê hương. Nhưng con không biết những điều hơn thế !

          Con thường phân vân và tự hỏi mình nhiều lắm , nhất là khi đọc những dòng thơ về quê hương. Quê hương trong con là một chốn đi về, một nơi để nhớ và một tấm lòng để yêu thương ...... Con đọc " Quê hương " rồi con " Nhớ con sông quê hương", con nhớ một vùng biển mặn, con nhớ những hàng tre nhiều như thể đó cũng là quê con mặc dù nơi nhà thơ viết về và nơi con nghĩ về không phải là một .
         Con ở Bình Định, nhà thơ ở Quãng Ngãi 2 địa phận chung 1 mốc giới, thế mà thành xa lạ. Nhưng nếu là những ngày xa xưa, cái thời của ba mẹ con, của nhà thơ từng sống thì khác phải không ạ ? Ngày ấy, chung nhau một tỉnh Nghĩa Bình .....
    
        Con vẫn ao ước được một lần sống như tuổi thơ của nhà thơ, được vùng vẫy giữa những dòng sông và bóng lá. Cái tên "Tế Hanh" - cho phép con mạo muội được nhắc đến - thường gieo trong con một niềm ganh tị nhỏ nhoi, tất nhiên chỉ rất nhỏ thôi ạ. Con hình dung ra rất nhiều từ những gì thuộc về tuổi thơ của nhà thơ- cái tuổi thơ mà con biết rằng chúng con không thể có được- từ bờ tre đến con nước êm đềm , tất cả cứ đều đều chảy qua dòng suy nghĩ con. Và con lại mơ một giấc mơ không thực !

        Con nhớ bài tập cảm thụ đầu tiên con được làm là cảm nhận về bốn câu thơ :  
                                                      Quê hương tôi có con sông xanh biếc
                                                      Nước gương trong soi bóng những hàng tre
                                                      Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè
                                                      Tỏa nắng xuống dòng sông lấp loáng  
 Lúc đó con chỉ mới học lớp bốn, với con có vẻ hơi xa lạ. Cô con bảo đó là một thiên đường , con cứ nghĩ thế thôi, thật đơn giản. Nhưng có lẽ con đã nhầm ..... Thiên đường không như con nghĩ , thiên đường không toàn bánh mà vẫn ngọt, thiên đường không toàn búp bê mà vẫn rất thú vị, và ở đó có hạnh phúc. Thiên đường của nhà thơ và thiên đường của con có lẽ chung nhau một chữ quê hương.
      
          Quê con cũng có dòng sông, thi thoảng cũng gặp những hàng tre nhưng phải tốn rất nhiều thời gian để con nhận ra rằng nó cũng rất đẹp chứ không chỉ như những gì người ta thấy và người ta nói ngày thường. Dòng sông xanh vì dòng sông là cả bầu trời tỏa nắng, nhiều lúc con muốn lặp lại câu hỏi hôm nào của nhà thơ :
                                                       Chẳng biết nước có giữ ngày giữ tháng
                                                       Giữ bao nhiêu kỷ niệm giữa dòng trôi?
Con sông nào cũng có ký ức, ngày hôm nay khác ngày hôm qua, sông gắn bó với những lớp người đi tới. Dù ở đâu, những con sông vẫn đẹp trong tâm hồn người biết trân trọng quê hương. Con sông của nhà thơ là cả một mối tình tuổi trẻ, là những ngày hồn nhiên đến say lòng:  
                                                       Khi bờ tre ríu rít tiếng chim kêu
                                                       Khi mặt nước chập chờn con cá nhảy
                                                       Bạn bè tôi tụm năm tụm bảy
                                                       Bầy chim non bơi lội trên sông
                                                       Tôi giơ tay ôm nước vào lòng
                                                      Sông mở nước ôm tôi vào dạ                Con không đủ cái tài và cái tinh tế để bình về những câu thơ ấy, con nhắc lại hôm nay chỉ muốn gợi chút tình nào đó của nhà thơ trong chính tâm hồn mình. Cái khoảnh khắc đắm chìm, mở rộng vòng tay ôm trọn cả con sông chắc phải rất hạnh phúc, rất ngọt ngào mới khiến cho không chỉ riêng mình nhà thơ mà bất kì ai vô tình đọc được cũng đều có cảm giác thích thú và say mê đến vậy.  
            Con chưa một lần được gặp hay trò chuyện với nhà thơ thế mà vẫn thấy nhà thơ gần lắm. Chắc tại nhà thơ viết nhiều về quê hương, nhà thơ đến với chúng con bằng cả tuổi thơ, cả hoài niệm thân thương. Nhà thơ cũng từng là một cậu bé, từng ngụp lặn giữa dòng sông Trà của đất Quảng quê hương , con yêu điều đó hơn là những vần thơ . Cũng buồn cười, nếu không có những vần thơ ấy làm sao con nhận ra được tâm hồn nhà thơ. Con yêu cả hai !


           Dòng sông của nhà thơ chảy rồi cũng đổ về biển cả bao la. Con không gắn bó với sông nhiều như nhà thơ nhưng con cảm nhận được mình là một đứa con của biển. Những làng chài nghèo ven biển, những con người cần cù lao động, thời nào cũng có. Mấy chục năm, khỏang cách chưa là quá lâu để biến đổi tất cả. " Quê hương" của nhà thơ như là mới hiện diện hôm qua thôi :
                                                                     Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới
                                                                     Nước bao vây cách biển nửa ngày sông
Có sông và cũng có biển. Có con thuyền, có người thủy thủ. Nhà thơ đã diễn tả lại một buổi sáng lao động nhộn nhịp, vui vẻ nhưng con nghĩ điều đó đâu phải là tất cả phải không ạ? Nhà thơ đã đặt tên là " quê hương" thì bài thơ ấy cũng mang theo đầy đủ, trọn vẹn cái tình quê sâu đậm của người. Con thích ngắm biển những bình minh sáng rực, những hoàng hôn đỏ thắm và con thấy thân thuộc biết bao nhịp thở biển khơi gắn với con người. Một buổi sáng tình cờ, con chứng kiến cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về, niềm vui , sự tươi sáng con đều thấy cả.
" Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng / Khắp thân hình nồng thở vị xa xăm " đúng là không có gì khác biệt !

             Mùi của biển ,mằn mặn mà khó phôi pha . Cùng một dải đất hình chữ S , biển quê nhà thơ và biển quê con cũng là một mà thôi. Và con người cũng vậy, họ hăng say lao động, con thấy cả tương lai trong đôi mắt người đánh lưới, con yêu những đôi mắt hy vọng ấy thật nhiều. Dẫu biết rằng, khó khăn chưa bao giờ thôi kết thúc ! Con không dám khẳng định rằng con bắt đầu biết yêu quê, yêu rặng tre khuất bóng chiều mờ xa, yêu con nước, yêu biển từ khi đọc thơ người , người ta sẽ nghĩ rằng con bịa chuyện, con không thật với lòng mình. Nhưng chỉ có con thôi, con hiểu bản thân mình, con biết những vần thơ của nhà thơ từ trước đến giờ và mãi mãi về sau này nữa luôn có 1 sức khơi gợi rất lớn, nó đã nhẹ nhàng đánh thức con.

         Xứ Quảng thân yêu sinh ra một người con là thi sĩ, thi sĩ ấy đem tài năng và cuộc đời mình trao trọn về miền đất này. Miền đất vẫn còn nghèo, nắng gió mù sương như bao miền đất cay cực khác của Tổ quốc mình ..... những miền đất nghèo nhưng anh dũng. Có một mùa chia cắt phải không ạ, vì chiến tranh, đau thương và mất mát. Tất cả dồn về trong nỗi nhớ . Cả 2 bài thơ, bài nào con cũng thấy nhà thơ nhắc đến nỗi nhơ của mình :  
                                                  Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi
                                                   Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá
Và:
                                                  Tôi nhớ không nguôi ánh nắng màu vàng
                                                  Tôi quên sao được sắc trời xanh biếc
                                                  Tôi nhớ cả những người không quen biết...  
          Nỗi nhớ có còn không khi hôm nay đất nước một nhà và nhà thơ đã trở về bên cạnh đất mẹ thương yêu ?
Con nghĩ nỗi nhớ ấy sẽ là mãi mãi, nó không của riêng ai, nó thuộc về quê hương, về những miền đất ta đang sống, đang gởi gắm tâm hồn mình . Con biết rồi, vì sao mà mẹ vẫn nhắc con phải nhớ về quê ngoại, vè xứ quảng, xứ sở của mía, của đường phổi , của mạch nha , của don...và biết cả vì sao mà những  miền đất con đi đến , đều có những người trìu mến gọi đó là quê hương, yêu mến bằng tất cả tấm lòng .
          
         Giữa muôn nghìn nỗi nhớ, giữa hàng vạn tình yêu nơi này vào ngày hôm nay cho phép con gởi vào đó một nỗi nhớ riêng tư, nỗi nhớ của con dành cho nhà thơ đáng kính trong con !

Thứ Ba, 18 tháng 5, 2010

KẾT QUẢ NĂM HỌC 2009 - 2010 LỚP 10 CHUYÊN VĂN

I. THI HỌC SINH GIỎI.
OLYMPIC TOÀN MIỀN NAM LỚP 10:
Huy chương Vàng: Trần Thái Diễm Chi
Huy chương Đồng: Đỗ Lê Bảo Duyên
HỌC SINH GIỎI CẤP TỈNH LỚP 11:
01 Giải Ba: Đỗ Lê Bảo Duyên
05 Giải Khuyến khích:
- Trần Thái Diễm Chi
- Hồ Minh Tú
- Hồ Ngọc Quý
- Nguyễn Thị Ngọc Ngà
- Nguyễn Thị Hạnh Nhân
KẾT QUẢ XẾP LOẠI CUỐI NĂM:
Học sinh giỏi toàn diện:
Trần Thái Diễm Chi
Hồ Ngọc Quý
Hồ Minh Tú
Học sinh tiên tiến:
Đỗ Lê Bảo Duyên
Hồ Mỹ Duyên
Nguyễn Thị Ngọc Ngà
Nguyễn Thị Thanh Nhàn
Nguyễn Thị Hạnh Nhân
Nguyễn Phúc Hải Nguyên
Phan Thị Thùy Trang
Phạm Thùy Diễm Trinh
Đạo đức tốt: 11/11 (100/100)

Thứ Tư, 9 tháng 12, 2009

Tính ước lệ trong "Chinh phụ ngâm khúc" và "Cung oán ngâm khúc"

  •  Hải Nguyên - Thanh Nhàn
      Văn học trung đại là một bộ phận lớn trong nền văn học Việt Nam, dòng văn học này phát triển theo qui luật vừa tiếp thu vừa dân tộc hóa tinh hoa văn học nước ngoài, chủ yếu là văn học Trung Quốc. Sự tiếp nhận một cách sáng tạo đã phát huy cá tính sáng tạo trong cả nội dung và hình thức biểu hiện. Hàng loạt những tác giả và tác phẩm lớn: Nguyễn Gia Thiều - Cung oán ngâm, Đặng Trần Côn - Chinh phụ ngâm, Nguyễn Du – Truyện Kiều, Hồ Xuân Hương…là những minh chứng rõ nét cho việc sử dụng bút pháp ước lệ và việc sáng tạo, cái biến để xây dựng nền văn học dân tộc.
      Chinh phụ ngâm – Đặng Trần Côn và Cung oán ngâm – Nguyễn Gia Thiều là những khúc ngâm nổi tiếng trong văn học dân tộc. Tuy đề tài có khác nhau nhưng cả hai tác phẩm đều là tiếng nói đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cá nhân của người phụ nữ. Cái tạo nên giá trị cho hai tác phẩm không đơn thuần là tiếng nói nhân đạo mà còn là giá trị nghệ thuật độc đáo. Vượt lên trên những công thức, những khuôn mẫu mang tính qui phạm, tác phẩm đã thể hiện tâm trạng của người phụ nữ bằng những dòng thơ mang sắc thái nội tâm hóa, giàu cảm xúc, khơi gợi âm điệu cảm thương.
      Chinh phụ ngâm – Đặng Trần Côn là tác phẩm được viết bằng chữ Hán gồm 477 câu, được Đoàn Thị Điểm dịch ra chữ Nôm. Toàn bộ tác phẩm là nỗi lòng của người chinh phụ có chồng đi lính phương xa. Đề tài chiến tranh, chinh phu, chinh phụ vốn là một đề tài phổ quát và truyền thống của nhiều nền văn học Trong văn học Việt Nam, tiếng nói oán trách chiến tranh đã vang lên từ những câu ca dao trữ tình đầy oán hận. Từ thế kỷ XV, nhà thơ Thái Thuận cũng từng đặt bút với Bài thơ Chinh phụ ngâm. Thế kỉ XVII, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đã viết về đề tài này. Thơ Đường đã xuất hiện những nhà thơ chuyên khai thác  đề tài này như Sầm Thang, Vương Xương Linh…
      Có thể tìm thấy trong Chinh phụ ngâm những công thức mang tính ước lệ về việc diễn tả thời gian: lấy sự việc thiên nhiên diễn tả bước đi của năm tháng:
Thưở lâm hành oanh chưa bén liễu
Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca
Nay quyên đã giục oanh già
Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo
Thưở đăng đồ mai chưa dạn gió
Hỏi ngày về chỉ độ đào bông
Nay đào đã quyến gió đông
Phù dung lại rã bên sông ba xòa…
(Chinh phụ ngâm – Đặng Trần Côn)
       Hình ảnh những chim oanh, quyên, én chỉ mùa thu, mùa hạ, mùa xuân đã diễn tả bước đi theo chu kỳ của thời gian đồng thời thể hiện tâm trạng chờ mong mỏi mòn của người chinh phụ với lời hứa của chồng.
      Tâm trạng cô đơn mòn mỏi đợi chờ , sự thất vọng, lời oán trách lẫn nỗi lòng bức bối của người cung nữ trong Cung oán ngâm được Nguyễn Gia Thiều diễn tả trong không gian cung cấm lạnh lẽo, thâm nghiêm với “lầu đãi nguyệt đứng ngồi dạ vũ, gác thừa lương thức ngủ thu phong.
      Ước lệ về thời gian không gian này xuất phát từ quan niệm thời gian tuần hoàn, không gian bất biến trong văn học trung đại.
      Tính ước lệ trong hai tác phẩm Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm còn được thể hiện ở việc xây dựng những mẫu hình nhân vật. Theo Trần Hà Nam trong bài viết “ Tính ước lệ trong văn học trung đại” đăng trên blog cá nhân : “ Con người thời trung đại có tinh thần hướng thượng, coi trọng những giá trị cộng đồng, những phẩm chất chung mà khó chấp nhận sự thay đổi lề thói hoặc những cá tính tự do… Nói về gương quân tử thì phải gắn với phẩm chất cao quí “nhân nghĩa lễ trí tín”, phụ nữ thì soi mình vào “công dung ngôn hạnh”, cuộc sống ẩn sĩ thì phải gắn với “ngư tiều canh mục”, phẩm chất tài hoa thì phải “cầm kỳ thi hoạ”, “phong hoa tuyết nguyệt…” Hình ảnh người chinh phu và cả chinh phụ trong Chinh phụ ngâm không nằm ngoài công thức này. Xuất phát từ ý thức về nghĩa vụ, quan niệm về công danh, danh dự của một trang hòa kiệt  hình ảnh người chinh phu trong mắt người chinh phụ trong buổi tiễn đưa là hình ảnh đẹp, rực rỡ, uy nghi:
Áo chàng đỏ tựa ráng pha
Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in
      Bên cạnh nỗi buồn, lưu luyến, sầu muộn của buổi tiễn đưa, chinh phụ đã khẳng khái “ phép công đã trọng, niềm tây sá gì”
       Tính ước lệ còn được thể hiện ở việc sử dụng điển tích điển cố trong tác phẩm. Có thể thấy trong đoạn trích “Nỗi sầu oán của người cung nữ - Trích Cung oán ngâm” lượng điển tích được sử dụng khá nhiều: “giấc mai, hồn bướm, dương xa, nguyệt lão” . Việc sử dụng điển tích, điển cố vừa thể hiện tính uyên thâm, trình độ học vấn của tác giả (theo quan niệm của những người cầm bút trong văn học trung đại) vừa diễn tả được nỗi lòng oán hận, khát vọng bứt phá của người cung nữ:
Tay nguyệt lão chẳng xe thì chớ
Xe thế này có dở dang không
Dang tay muốn dứt tơ hồng
Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra”
(Cung oán ngâm – Nguyễn Gia Thiều)
      Hay trong Chinh phụ ngâm: 
Hẹn cùng ta lũng Tây Nham ấy
Sớm đã trông nào thấy hơi tăm
Hẹn nơi nao Hán Dương cầu nọ
Chiều lại tìm nào có tiêu hao…”
Lũng Tây Nham, cầu Hán Dương đều là những địa danh có tính chất ước lệ cho nơi chốn gặp gỡ, nhằm bày tỏ sự trông chờ, nỗi thất vọng của người chinh phụ chứ không nhằm chỉ một nơi chốn cụ thể.
      Tuy nhiên việc sử dụng tính ước lệ trong hai tác phẩm Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm mang tính sáng tạo rất lớn. Chinh phụ ngâm khúc – Đặng Trần Côn có phần tìm thi hứng từ những trang sách cổ, tuy nhiên cảm hứng của cả tác giả lẫn dịch giả đều bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống. Tư tưởng đòi quyền sống quyền hạnh phúc của con người – tư tưởng chủ đạo của văn học giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII, đã khiến hình mẫu nhân vật đã thay đổi. Người chinh phụ từ việc coi trọng “niềm công” qua bao ngày tháng khắc khoải xa chồng, đã có sự thay đổi về nhận thức. Không hề phủ nhận lý tưởng công danh nhưng nàng cũng đã hiểu chiếc ấn công hầu không có ý nghĩa bằng hạnh phúc đôi lứa:
Lúc ngoảnh lại ngắm màu dương liễu
Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong
      Tư tưởng này còn có giá trị phản chiến sâu sắc. Điều này đã lý giải vì sao sử dụng bút pháp ước lệ nhưng Chinh phụ ngâm vẫn phản ánh chân thực cuộc sống, phản ánh những vấn đề cơ bản và tâm lý con người  của thời đại.
      Khát vọng của người cung nữ trong Cung oán ngâm – Nguyễn Gia Thiều không chỉ là khát vọng về hạnh phúc tinh thần mà còn mang cả màu sắc nhục cảm. Đây là một nét mới trong văn học trung đại.
      Đoạn trích “ Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” (Trích Cung oán ngâm – Đặng Trần Côn) là một kiệt tác về việc miêu tả tâm lý và khả năng Việt hóa hệ thống điển tích và từ Hán Việt. Gạt đi những hình ảnh mang tính chất ước lệ “non Yên, sắt cầm, dây uyên, phím loan, gió đông…) thì nhiều ý tứ trong nguyên tác đã được chuyển dịch, nâng cấp thành những lời thơ thật sự giàu chất thơ:
Khắc giờ đằng đẵng như niên
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa
Được lấy nguyên tác từ hai câu thơ chữ Hán “Sầu tự hải, Khắc như niên” (Sầu như biển, Khắc như năm) nhưng trong Chinh phụ ngâm được chuyển dịch thành nội tâm của người chinh phụ, gợi được cảm giác thời gian chờ đợi tương ứng với nỗi sầu vô hạn, khơi gợi âm điệu cảm thương.
      Trong đoạn trích tác giả đã khai thác và sử dụng hết sức hợp tình, hợp cảnh hàng loạt những từ láy: gà eo óc, hòa phất phơ, khắc giờ đằng đăng, sầu dằng dặc, hồn mê mải, lệ châu chan, trời thăm thẳm, nhớ đau đáu…cùng với việc phát huy một cách tài tình nhạc điệu trữ tình của thể thơ lục bát nhằm diễn tả chân thực sâu sắc thương nhớ của người chinh phụ trong tình cảnh lẻ loi đơn chiếc.
      Trong đoạn trích “ Nỗi sầu oán của người cung nữ” (Trích Cung oán ngâm – Nguyễn Gia Thiều) những từ Hán Việt được đặt cạnh những từ nôm na, với dụng ý làm nổi bật sự đối lập giữa cuộc sống âm thầm, cô quạnh của người cung nữ với cảnh xa hoa tráng lệ nơi cung cấm:
Trong cung quế âm thầm chiếc bóng
Lầu đãi nguyệt đứng ngồi dạ vũ
Gác thừa lương thức ngủ thu phong
Phòng tiêu lạnh ngắt như đồng…

      Tính ước lệ trong văn học trung đại nói chung và trong tác phẩm Cung oán ngâm và Chinh phụ ngâm là một đặc điểm nghệ thuật của văn học trung đại. Việc sử dụng sáng tạo tính ước lệ đã đem văn chương gắn với đời sống, thể hiện tài năng và tấm lòng của các tác giả trong việc thể hiện ý thức dân tộc, xây dựng nền văn chương nước nhà.

Thứ Ba, 8 tháng 12, 2009

Tính ước lệ trong hai đoạn trích: "Chinh phụ ngâm khúc" và "Cung oán ngâm khúc"

  •     Thùy Trang - Ngoc Quý- 10V
   Đất nước Việt Nam bé nhỏ xinh xinh với những lũy tre làng đơn sơ, mộc mạc, những cánh đồng bát ngát, mênh mông đã đi vào trong lòng mỗi người dân đất Việt những tình cảm thiết tha, yêu mến, tự hào. Đất nước ta đẹp không phải chỉ với những cảnh quan ấn tượng, những trang sử vàng chói lọi mà nó còn đẹp bởi:
"Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc
        Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn"
    Những áng văn hay, những bài thơ tuyệt đẹp đã được viết nên bằng những trái tim tràn đầy nhiệt huyết với quê hương, Tổ quốc mình. Để làm nên những thành công ấy cần có sự đóng góp không nhỏ của tính ước lệ trong văn học trung đại.
   "Chinh phụ ngâm" của Đặng Trần Côn (dịch giả Đoàn Thị Điểm ?), "Cung oán ngâm" của Nguyễn Gia Thiều là những áng văn hay đã khắc họa sâu sắc cuộc sống cay đắng, khổ đau, lẻ loi, đơn độc của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến đầy biến động. Sự đau thương, mất mát, cái đẹp bị lãng quên đã được các tác giả khắc họa thành công bằng bút pháp ước lệ tượng trưng.
     Văn chương là sản phẩm được kết tinh từ những quá trình nhận thức hiện thực và sáng tạo của các tác giả. Bởi thế mà các tác phẩm đã phản ánh sâu sắc cuộc sống của mỗi con người, và những suy nghĩ, nhận thức của họ. Văn chương trung đại với những khuôn vàng thước ngọc, tính quy phạm đã gò bò sự sáng tạo của con người vào trong những chuẩn mực, quy định. Vì vậy mà các tác phẩm đã chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng thời đại, những chuẩn mực đạo đức và các đạo giáo (Nho, Phật, Lão) đã đi vào thi ca, chi phối vũ trụ quan và nhân sinh quan của mỗi con người. Tất cả được kết tinh lại trong tính ước lệ, và nó đã trở thành những mẫu số chung cho các hình tượng văn học.
     Con người thời trung đại sùng cổ thường hoài niệm về quá khứ hơn là hướng về tương lai. Bởi vậy mà những quan niêm thời xưa đã ăn sâu vào nhận thức con người, và các tác giả đã vận dụng nó vào trong sản phẩm của mình. Quan niệm thời gian, không gian cũng mang theo những đặc điểm ấy. Nó là những chu kỳ tuần hoàn khép kín, mà trong đó, các sự vật không vận động, không phát triển. Cùng với thời gian luyến tính, không gian được sắp xếp theo thứ bậc, lớp lang, có quan hệ tương ứng. Từ đó, trong văn chương cũng xuất hiện các hình ảnh ước lệ tượng trưng. Các hình ảnh thiên nhiên "hoa - điểu", các mùa trong năm "xuân - hạ - thu - đông", cùng với các hiện tượng "ngày - đêm" đã đi vào thơ ca và trở thành những ước lệ quen thuộc. Để rồi đem đến cho người đọc những bức tranh sống động, hài hòa với nội tâm con người:
"Cảnh buồn người thiết tha lòng
      Cành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun"
                      (Chinh phụ ngâm)
   Trong hoàn cảnh xa cách, nỗi nhớ thương dâng đầy tâm trạng, người chinh phụ nơi phòng khuê đau khổ, bẽ bàng. Cảnh vật trong mắt nàng giờ đây cũng nhuốm đầy tâm trạng, nó như mang theo nỗi ngậm ngùi, cay đắng trải dài ra vô tận. Không gian ấy mang đầy những nỗi bi thương, xuất hiện với ấn tượng đầu tiên là một màu trắng xóa. Làn sương hiện ra không còn cái vẻ mơ hồ, huyền ảo, mà nó "đượm" trên cây như mang theo cái nặng trĩu của tâm hồn người chinh phụ. Những giọt sương ấy đem đến cái lạnh lẽo, giá băng, xuyên thấm vào tâm tư, cảm giác của con người, khiến nàng thấm thía sự cô đơn, trống trải hơn bao giờ hết. Và những trận mưa phun lại tiếp tục đem đến một cái lạnh tê tái cho con người. Sương - mưa, cảnh thật hay cảnh ảo? Mưa rơi trước mắt hay đang nhỏ giọt trong lòng người chinh phụ cô đơn, bẽ bàng duyên số? Bởi vậy mà:
"Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ"
                                   (Truyện Kiều - Nguyễn Du)
    Một buổi chiều tà man mác, một mùa thu nhạt nhòa hay một mùa đông lạnh giá, tất cả đã trở thành những hình ảnh ước lệ quen thuộc trong thi ca cổ điển Viêt Nam. Và giờ đây, Nguyễn Gia Thiều lại tiếp tục vận dụng những hình ảnh ấy thật độc đáo:
"Lầu Tần, chiều nhạt vẻ thu
    Gối loan tuyết đóng, chăn cù gió đông"
    Buổi chiều với ánh nắng nhạt nhòa dần dần tắt bóng sau những rặng núi xanh đã đem đến cho con người một nỗi buồn thấm thía, như gợi báo những sự mất mát, chia li. Và buổi chiều ấy đã khắc họa sâu sắc tâm trạng cô đơn của người cung nữ bị lãng quên trong tiềm thức, bị chôn vùi cùng quá khứ vàng son. Thu - đông, các mùa lặng lẽ trôi qua như thời gian đang điểm bước, như tuổi thanh xuân của con người đang chầm chậm trôi đi. Không những thế, mùa thu với nỗi buồn man mác, mùa đông với cái lạnh giá băng đã trở thành những biểu trưng quen thuộc cho tâm trạng con người. Để rồi hai câu thơ hiện lên với tất cả sự mất mát, bàng hoàng, với cái lạnh thấu xương vây kín tâm tư người cung nữ. Và rồi, bóng đêm của tuổi già trùm xuống, lấy đi vẻ thanh xuân cùng tình yêu tuổi trẻ của nàng. Không gian buổi chiều với ánh nắng nhạt nhòa, mùa thu buồn với "lá vàng trước gió" gợi lên một sự sống mỏng manh đang dần tắt lịm, mùa đông tuyết rơi lạnh lẽo vẽ lên không gian một màu trắng tang tóc, buồn thương. Tất cả như đóng khung tâm trạng con người, để rồi tâm hồn người cung nữ chìm đắm trong sầu - hận.
    Bên cạnh những hình ảnh ước lệ lấy thiên nhiên để biểu hiện thời gian là cách xây dựng không gian bốn bề đông - tây - nam - bắc. Và sự thiết lập không gian gần - xa cũng đã trở nên quen thuộc trong văn chương trung đại:
"Giọt sương phủ bụi chim gù
    Sâu tường kêu vắng, chuông chùa nên khơi"
    "Sâu tường", âm thanh gần rả rích đâu đây như khuấy động tâm tư người chinh phụ. Tiếng kêu ấy gợi nên bao sự thản thốt, bao hoang mang chất chồng mà thời gian xa cách đã làm cho nó thêm trĩu nặng. Tiếng chuông chùa từ xa vọng lại như đưa con người chìm vào cõi hư vô. Để rồi, từ sự kết hợp giữa không gian gần - xa, sự hòa quyện giữa thê lương và mơ mộng đã đẩy con người vào tình cảnh xót xa, tê tái. Tâm hồn muốn thanh thản, bình yên mà không thể được. Người chinh phụ muốn quên đi những ưu tư, vướng bận. Thế nhưng, càng quên lại càng nhớ, bóng hình chinh phu cùng hiện thực xa cách cứ hiện diện trong tâm trí nàng, làm hồn nàng hoang mang, xáo động. Phải chăng lúc này đây, người chinh phụ đang thèm khát được quay về với hạnh phúc ngày xưa "Bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ". Thế nhưng, hiện thực phũ phàng  đã đẩy con người vào trường ca bi kịch, để rồi những hoài niệm về quá khứ, những hạnh phúc lứa đôi như vỡ tan tành? Sự kết hợp giữa không gian xa - gần đã làm cho nỗi nhớ của người chinh phụ trải dài ra theo khoảng cách. Và nỗi nhớ ấy cứ như từ chốn phòng khuê lan tỏa đến nơi có tiếng chuông chùa, để rồi từ đó vỡ òa ra giữa không gian mênh mông, đất trời rộng lớn.
     Quan niệm về thời gian, không gian cũng đã chi phối những nhận thức về con người. Nếu không gian được phân chia thành thượng - trung - hạ, thì con người được xếp vào các loại quân tử - tiểu nhân. Con người thời trung đại sống gắn liền với những quan niệm, đạo lí "tam cương ngũ thường". Kẻ làm trai phải tránh xa nữ nhi thường tình để thỏa chí tang bồng, phải soi mình vào tấm gương tiền nhân mà phò vua giúp nước. Kẻ sĩ cần phải giữ mình trong sạch "phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất". Nữ nhi phải soi mình vào tấm gương liệt nữ, "công dung ngôn hạnh", "tam tòng tứ đức". Những phẩm chất này đã trở thành chuẩn mực, quy định đạo đức của con người phong kiến. Nó tạo thành một vòng cương tỏa mà con người  phải nép mình trong đó và không có quyền được thay đổi. Do vậy, hình tượng con người trong văn chương cũng mang tính ước lệ.
      Hình ảnh người chinh phụ trong "Chinh phụ ngâm" cùng người cung nữ trong "Cung oán ngâm khúc" là hình ảnh biểu trưng cho lòng chung thủy sắt son của những người phụ nữ. Trong cảnh khói lửa chiến trường, tương lai mù mịt, người chinh phụ vẫn ngóng trông tin tức chồng với tất cả lòng thiết tha, mong mỏi:
"Ngoài rèm thước chẳng mách tin
  Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?"
      Hình ảnh chim thước báo tin vui đã trở thành một hình tượng ước lệ trong thơ ca. Nó như đem niềm vui về với mọi gia đình, kéo gần khoảng cách giữa người đi kẻ ở. Dường như ta nhận thấy ở đây hình ảnh một người phụ nữ đang khắc khoải nhớ thương, từng phút từng giây trông chờ bóng hình quen thuộc. Khoảng cách và thời gian đã làm cho nàng mỏi mòn, héo úa để rồi giờ đây, tất cả niềm nhớ thương, đợi chờ chỉ còn biết gửi gắm vào một con chim bé nhỏ. Thế nhưng, niềm hi vọng duy nhất cũng đã ngoảnh mặt làm ngơ với nàng "thước chẳng mách tin". Giữa nỗi niềm cô đơn không bờ bến, giữa không gian lấp đầy sự tuyệt vọng, tưởng chừng như người chinh phụ sẽ bỏ cuộc, quên đi tình yêu thiết tha, mặn nồng của mình. Nào ngờ, tấm thân mảnh mai ấy vẫn khắc sâu mối tình chung thủy, ôm trong mình một mối tình riêng, đợi chờ dù dòng thời gian vẫn đang trôi chảy "lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi".
     Người cung nữ trong "Cung oán ngâm" cũng thế. Mặc dù bị đấng cửu trùng lãng quên, bị bỏ mặc cho thời gian âm thầm điểm sương trên mái tóc, nàng vẫn tha thiết yêu vua và hoài niệm về quá khứ hạnh phúc bên Người:
"Chiều ủ dột giấc mai khuya sớm
Vẻ bâng khuâng hồn bướm vẩn vơ"
   "Hồn bướm mơ tiên" đã trở thành một điển tích quen thuộc trong thi ca Việt Nam. Trong khoảnh khắc ngột ngạt ở chốn hậu cung, bị giam hãm trong không gian lẻ loi mênh mông, người cung nữ mơ được siêu thoát, hay giấc mơ hóa bướm là giấc mơ hạnh phúc để "điệp luyến hoa"??
    "Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có" (Nam Cao). "Chinh phụ ngâm khúc" và "Cung oán ngâm khúc" là những áng thơ hay, lẽ nào lại không đạt được những điều như Nam Cao đã nói? Chính sự sáng tạo của các tác giả đã phá vỡ đi tính ước lệ trong văn học trung đại. Hình ảnh người cung nữ nơi thâm khuê không chỉ được khắc họa với nỗi sầu, với tình yêu chung thủy, nàng còn đươc thể hiện trong cảm xúc oán hận nhà vua khi đã lãng quên tình yêu, tuổi thanh xuân của nàng
                 "Tay nguyệt lão chẳng xe thì chớ
                   Xe thế này có dở dang không
                   Dang tay muốn dứt tơ hồng
                   Bựt mình muốn đạp tiêu phòng mà ra"
     Dường như ta nhận thấy ở đây hình ảnh một người phụ nữ nổi loạn, đang gào thét, phá tan tất cả. Chẳng còn nữa hình ảnh một người cung nữ thiết tha, nồng thắm, ôm sầu riêng theo từng ngày từng tháng, mà xuất hiện ở đây là một con người uất hận đến tột cùng, nỗi niềm căm phẫn dâng lên đến cao độ. Những chuẩn mực phong kiến "công dung ngôn hạnh", "tam tòng tứ đức" đã lùi đằng sau, nhường chỗ cho tâm trạng con người. Điều đó đã làm phong phú thêm tâm hồn người phụ nữ và đóng góp vào sự thành công của các tác giả.
      Bên cạnh đó, quan niệm về cái đẹp cũng là cơ sở thẩm mĩ của tính ước lệ. Con người thời phong kiến cho rằng  người xưa có những quan niệm thẩm mĩ mà ngày nay không thể nào có được. Bởi vậy, tính sùng cổ đã hình thành và ảnh hưởng sâu sắc đến văn học đương thời. Con người thời đó "thuật nhi bất tác", chỉ hướng về quá khứ, hoài niệm về thế kỉ vàng son mà không hề hướng tầm mắt đến tương lai. Bởi vậy, các hình ảnh biểu trưng quen thuộc đã được lặp đi lặp lại nhiều lần và trở thành mẫu số chung cho văn học sau đó. Khắc họa vẻ đẹp của người phụ nữ, có những hình ảnh quen thuộc:
"Sương như búa bổ mòn gốc liễu
Tuyết dường cưa xẻ héo cành khô"
                 (Chinh phụ ngâm)
 Hay:
"Hoa này bướm nỡ thờ ơ
               Để gầy bông thắm, để xơ nhị vàng"
                                  (Cung oán ngâm khúc)
"Liễu" - người phụ nữ mong manh yếu đuối, "ngô" người phụ nữ mộc mạc chân tình được đặt trong hai câu thơ tạo nên một sự kết hợp hài hòa của hình tượng người phụ nữ "liễu" - "ngô" được đặt trong sự đăng đối làm hoàn thiện hơn hình ảnh con người. Và đúng như tính chất của liễu - ngô, người phụ nữ mảnh mai dễ bị tổn thương, hư hao bởi "sương", "tuyết". Sự cô đơn lạnh lẽo (sương) cùng  với tuổi già tàn phai sắc thanh xuân (tuyết) đã làm cho người chinh phụ héo hon, gầy mòn, chết dần theo năm tháng trôi mau. Hình ảnh người phụ nữ cũng được đặt trong sự tương quan với hoa. Nó gợi lên một nhan sắc hương trời làm rung động lòng người. Nhưng cũng như hoa sớm nở tối tàn, vẻ đẹp ấy rồi cũng sẽ tàn phai sẽ bị lãng quên theo dòng đời trôi chảy. Niềm tự hào, tình yêu của nàng chỉ tồn tại trong thời gian ngắn ngủi để rồi khi đóa hoa tàn đi, những nếp nhăn xuất hiện trên gương mặt thì cũng làn lúc nàng mất đi tất cả, để rồi tất cả chỉ còn lại một sự ngậm ngùi, cô đơn, trống trải. Một hình ảnh nhưng ẩn chứa bao tâm tình, bao bất hạnh mà người phụ nữ phải gánh chịu. Bút pháp ước lệ tượng trưng đã làm cho câu thơ hàm súc và dễ đi sâu vào lòng người đọc những tình cảm xúc động, cảm thông cho duyên kiếp bẽ bàng.
      "Chinh phụ ngâm khúc" cùng với "Cung oán ngâm khúc" đã trở thành những áng thơ hay khắc họa sâu sắc hiện thực cuộc sống của con người trong hoàn cảnh lẻ loi, đơn chiếc. Cùng với thể thơ dân tộc song thất lục bát, tính ước lệ tượng trưng đã đưa các tác phẩm lên một đỉnh cao mới và sự phá vỡ tính ước lệ đã nâng các nhà thơ lên một tầm cao mới.