VOV - Thơ và cuộc sống 9-9-2012 - phỏng vấn PCN Trần Hà Nam về thơ Xuân Diệu
Thầy Trần Hà Nam trả lời phóng viên Đài Tiếng nói Việt Nam - phát trong chương trình Thơ và cuộc sống trên VOV1 ngày 9 - 9 - 2012.
Có chút đính chính: Bài "Cha đàng Ngoài mẹ ở đàng Trong" không phải bài "Về thăm huyện quê hương đổi mới"
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyên đề 11. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyên đề 11. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Hai, 15 tháng 10, 2012
Thứ Tư, 9 tháng 11, 2011
Gánh thơ lên bán chợ Trời
- Thanh Thư
Trong dòng chảy văn học Việt Nam , Tản Đà là thi sĩ đầu tiên mở đầu cho thơ ca Việt Nam hiện đại, “người vắt mình qua hai thế kỉ”. Ông cũng là người đầu tiên đã có can đảm làm thi sĩ một cách đường hoàng. Đặc biệt là ông dám giữ một bản ngã, dám có một cái tôi, mà như đánh giá của Xuân Diệu công lao lớn nhất của Tản Đà là đã cống hiến cho văn học một cái tôi cá nhân, cá thể. Cái Tôi cá nhân trong thơ Tản Đà được thể hiện qua nhiều cung bậc khác nhau, đó là cái tôi đa sầu, đa cảm, cái tôi đa tình và cái tôi ngông. Tản Đà không phải là một trường hợp “ngông” cá biệt trong văn học Việt Nam . Trước ông, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát…đều ngông. Nhưng có lẽ chỉ Tản Đà mới có cái kiểu ngông gánh thơ lên bán chợ trời.
“Ngông” là tỏ ra bất cần đến sự khen chê của người đời, có người nói, đó là thái độ khinh đời, ngạo đời dựa trên sự tài hoa uyên bác. Người Trung Hoa hiểu ngông là cuồng, là loạn. Xét đến cùng, ngông thể hiện một cá tính đặc biệt. Khái niệm “ngông” trong văn học thường được dùng để chỉ định một kiểu ứng xử xã hội và nghệ thuật khác thói thường của những nhà văn, nhà thơ có ý thức cá nhân cao độ. Tất nhiên, ý thức cá nhân ấy cũng chỉ được phát triển mạnh mẽ trong những điều kiện xã hội nhất định, gắn liền với tổng thể những quan niệm khá mới mẻ (trong khuôn khổ trung đại) về vũ trụ, nhân sinh và nghệ thuật. Đối với Tản Đà, cái ngông ấy không nên hiểu đơn thuần chỉ là cái ngông của những nhà nho tài tử, của đám văn nhân, mà phải hiểu theo góc độ khác, từ nhân sinh quan. Trước hết, khi thể hiện mình ngông, nghĩa là khi con người sống thật với mình nhất, thể hiện cá tính không trộn lẫn với người khác, dù người khác ấy có sự chi phối mạnh mẽ đến bản thân mình. Xã hội phong kiến là xã hội không cho cá tính phát triển, người có tài trong xã hội phong kiến là người chỉ được múa một tay (Phan Ngọc), con người trong xã hội phong kiến phải tuân theo các phép tắc của cộng đồng, phải hòa mình vào số đông của tập thể. Sự phát triển cá tính trong xã hội phong kiến là một mầm họa. Vì thế, mọi phép tắc ứng xử trong xã hội phong kiến, suy cho cùng là để bóp chết cá tính của con người. Trong xã hội ngột ngạt như thế mà có những tính cách trỗi dậy thì rõ ràng không thể xem đó là sự ương ngạnh. Mặt khác trong những năm 20 của thế kỉ XX, trước luồng gió của chủ nghĩa cá nhân tư sản và trào lưu văn học lãng mạn trên thế giới, xã hội nảy sinh nhu cầu đòi giải phóng bản ngã, đòi tự do và đời sống tình cảm riêng tư chống lại sự kiềm hãm, đè nén của xã hội phong kiến. Cái “ngông” của Tản Đà thực chất là sự phản ứng của xã hội đương thời ở góc độ nhân sinh quan. Sự phản ứng đó là hết sức táo bạo, thể hiện bản lĩnh của một nhân cách sống.
Tản Đà được ví là nhà thơ của say, ngông và mộng. Tản Đà đã thể hiện cái ngông trong cuộc sống và trong cả thơ văn. Ngay trong lời tự bạch, Tản Đà đã hiện lên với hình ảnh của một khách chơi ngông nghênh nhất: Trời sinh ra bác Tản Đà/ Quê hương thời có, cửa nhà thời không. Tản Đà coi bốn phương là nhà, mang túi thơ đi khắp trong thiên hạ, mang cái ngông nghênh của mình thách thức với cả sông núi. Và ông cho rằng đó là định mệnh sắp đặt ông như vậy, dù ông dù mọi người có chấp nhận hay không. Có thể nói trong sáng tác của mình, Tản Đà đã thực sự là người kế tục của khuynh hướng văn học đã kịp thời trở thành truyền thống lịch sử. Không có cái ngông thị tài của Cao Bá Quát, không có cái ngỗ ngược của Nguyễn Công Trứ, không có một chàng Kim Trọng Rắp mong theo ấn từ quan để tìm kiếm lại người đẹp thì khó mà có cái tuyên ngôn ngạo nghễ của Tản Đà:Thơ lưng chất nặng tay buồn rỗi/ Bán áo mà mua giấy viết ngông. Hỏng thi, nếm trải cảnh bi kịch xưa nay không ít. Tú Xương đã viết về điều đó thật thấm thía. Nhưng Tản Đà thì lại khác, hỏng khoa thi Đinh Dậu, khoa Nhâm Tí, ông đã đe dọa và hùng hổ đến tức cười: Bởi ông hay quá ông không đỗ/ Không đỗ ông càng tốt bộ ngông. Ai đó đã từng nói: thi sĩ cũng là tửu đồ, tìm đến rượu, cái ngông ấy như được kích thích, ngông lại càng ngông. Bao nhà thơ nói rất hay về rượu, lập luận, lí sự cho việc say sưa. Tản Đà cũng thích rượu, vì cũng như các nhà thi bá thời xưa (Lí Bạch, Lưu Linh), rượu là nguồn cảm hứng của ông. Rượu là phương tiện thần diệu mê ly để ông ngông với đời. Say sưa nghĩ cũng hư đời/ Hư thời hư vậy, say thời cứ say/ Đất say đất cũng lăn quay/ Trời say mặt đất đỏ gay ai cười? Tản Đà đã say, đã sống trọn vẹn trong cái say của mình, cái say ngạo mạn và thách thức. Tản Đà không say rượu. Rượu chẳng qua chỉ là cái cớ. Một cái cớ để giúp cho Tản Đà được ngất ngưởng vùng vẫy trong cuộc chơi: Cảnh đời gió gió mưa mưa/ Buồn trông ta phải say sưa đỡ buồn/ Rượu say, thơ lại khơi nguồn/ Nên thơ, rượu cũng thêm ngon giọng tình/ Rượu thơ mình lại với mình/ Khi say quên cả cái hình phù du/ Trăm năm thơ túi rượu vò. Tóm lại, trong thơ Tản Đà, ngông là một đặc điểm nổi bật thể hiện cách sống khinh bạc, làm trái ngược đời để tỏ rằng mình tỉnh trong khi kẻ khác say, để chứng minh rằng mình thanh bạch trong khi người khác ô trọc, dơ bẩn. Sau Tú Xương, có lẽ Tản Đà là một nhà thơ ngông hơn cả trên thi đàn văn giao thời hai thế kỉ XIX -XX.
Có thể nói cái ngông cũng như phong cách thơ Tản Đà được thể hiện tiêu biểu nhất qua bài thơ Hầu trời được xếp trong tập Còn chơi (1921). Xuân Diệu đánh giá Hầu Trời là một trong số những bài đứng lại được với thời gian, ngạo cùng năm tháng. Bài thơ là một đóng góp lớn lao của Tản Đà trong việc cách tân về cả nội dung và hình thức thơ, tiêu biểu nhất là sự thể hiện cái tôi ngông. Có thể nói Hầu trời không phải là một đề tài mới của riêng Tản Đà, đề tài “lên tiên” đã từng được thể hiện trong nhiều sáng tác dân gian và văn học viết thời trung đại. Nhưng Tản Đà lên tiên trong một bối cảnh, mục đích, diễn biến hoàn toàn khác so với trước đó. Tiếng ngâm thơ “vang cả sông Ngân Hà” khiến Trời “mất ngủ”. Rõ ràng, cái duyên được lên hầu Trời gắn liền với những phút cao hứng của nhà thơ. Chuyện bịa mười mươi mà xem chừng rất tự nhiên. Bài thơ có rất nhiều chi tiết cụ thể được xếp đặt lô-gich: nằm một mình - buồn- đun nước uống -ngâm văn, tiên xuống - nêu lí do -đưa lên trời, được đón tiếp trọng vọng, được mời mọc đọc thơ -chư tiên xúm vào khen ngợi, tán thưởng -Trời truyền hỏi danh tính -kể lể tình cảnh, bày tỏ nỗi lòng -Trời đả thông tư tưởng, lạy tạ ra về… Nhà thơ đã mở đầu câu chuyện của mình bằng một giọng điệu rất hấp dẫn, bịa mà vẫn tự nhiên, hóm hỉnh. Ở đây, tác giả muốn người đọc cảm nhận được cái hồn cốt trong cõi mộng, mộng mà như tỉnh, dường như tác giả muốn người đọc xác nhận đây là một câu chuyện thật. Nó đưa người đọc đến với những cảnh trí thần tiên, lộng lẫy, không còn sự ràng buộc, không còn sự giới hạn. Nhà thơ bịa ra chuyện “hầu trời”, hình dung và đặt các đấng siêu nhiên ngang hàng với mình đã hàm chứa một sự khiêu khích đối với cái tôn ti, đẳng cấp đang thống trị xã hội lúc bấy giờ. Chính vì vậy, câu chuyện được lên tiên giới vừa lãng mạn nhưng pha lẫn nét “ngông” trong thơ thi nhân. Việc hư cấu nên cả một câu chuyện như muốn đưa thơ trữ tình thoát dần nhiệm vụ tỏ chí nghiêm trang, khắc khổ để tiện giải bày cảm xúc phóng khoáng của con người cá nhân, đồng thời là một cách để nhà thơ thể hiện độc đáo nhất cái ngông của mình.
Sau khi được hai nàng tiên dẫn lên trời, Tản Đà đã đọc thơ cho chư tiên nghe: Chư tiên ngồi quanh đã tĩnh túc/ Trời sai pha nước để nhấp giọng/ Truyền cho văn sĩ đọc văn nghe/ Dạ bẩm lạy trời con xin đọc. Thi nhân đọc rất cao hứng, sảng khoái và có phần ngông nghênh tự đắc: Đọc hết văn vần sang văn xuôi/ Hết văn lý thuyết lại văn chơi/ Đương cơn đắc ý đọc đã thích/ Chè trời nhấp giọng càng tốt hơi. Tự khen tài mình nhưng lại chọn hình thức để Trời cùng chư tiên khen ngợi. Đây là một kiểu ngông rất đáng yêu trong thơ Tản Đà. Rõ ràng, thi nhân rất ý thức về tài năng văn thơ của mình và cũng là người táo bạo, dám đường hoàng bộc lộ “cái tôi” cá thể. Nhà thơ đã thấy được dài, giàu, lắm lối là phẩm hạnh đặc thù của văn thời mình, bên cạnh những phẩm hạnh truyền thống như nhời văn chuốt đẹp, khí văn hùng mạnh, êm, tinh…Tình huống hầu Trời quả đã cho nhà thơ một cơ hội tuyệt vời để phô bày một cách sảng khoái tài năng của bản thân. Ông cũng rất ngông khi tìm đến trời để khẳng định tài năng, ngông khi đem văn chương lên “tiếp thị” chợ trời. Cái ngông ấy gián tiếp nói lên rằng ở hạ giới không có ai là tri âm, tri kỉ với thơ văn ông. Lời trời khen hẳn là sự thẩm định có sức nặng nhất, không thể bác bỏ, nghi ngờ. Đúng là một lối tự khẳng định rất ngông đồng thời bộc lộ quan niệm về văn chương của Tản Đà. Có thể nói Tản Đà là nhà thơ đầu tiên đi rao bán văn chương.
Khi đọc văn chương cho trời nghe, Trời hỏi danh tính, Tản Đà đã hiên ngang thể hiện cái tôi của mình qua việc tự xưng: Dạ, bẩm lạy Trời, con xin thưa:/ Con tên Khắc Hiếu họ là Nguyễn/ Quê ở Á châu về Địa cầu/ Sông Đà, núi Tản, nước Nam Việt. Tác giả đã tâu trình rõ ràng về họ tên, xuất xứ của mình cho Trời nghe. Việc xưng danh của Tản Đà diễn ra khá tự nhiên, phù hợp hoàn toàn với mạch truyện. Việc thể hiện họ tên trong tác phẩm chính là một cách để thể hiện cái tôi cá nhân của mình, và đó cũng chính là cái ngông của Tản Đà. Thơ văn trước kia không ít người xưng tên, Nguyễn Du đã từng ngậm ngùi: Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như (Độc Tiểu Thanh kí), Hồ Xuân Hương trong Mời trầu cũng tự khẳng định: Này của Xuân Hương mới quệt rồi, Nguyễn Công Trứ Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng (Bài ca ngất ngưởng)…Nhưng cách xưng danh tính của Tản Đà cũng khác thể hiện rõ dấu ấn trong cung cách của ông, đó là cách xưng hô tên trước, họ sau giống phương Tây, tách tên, họ theo một kiểu cung khai lí lịch rất hiện đại, lại còn nói rõ bản quán, quốc tịch, châu lục, tên của hành tin… Vì vậy đã ngông lại càng ngông. Nhưng đó là cái ngông của người có tài và biết trân trọng, khẳng định tài năng của mình. Có một nụ cười hóm hỉnh ẩn sau vẻ thành khẩn trước “đấng chí tôn”, nhưng điều đáng nói hơn hết vẫn là ý thức cá nhân, ý thức dân tộc của nhà thơ. Một cái tên - tên thật chứ không phải tự hay hiệu -mà được nói ra trịnh trọng đến vậy hẳn nhà thơ phải thấy có một giá trị không thể phủ nhận gắn liền với nó. Hơn nữa, ông còn muốn Trời thấy được Nguyễn Khắc Hiếu chính là của Á Châu -của xứ sở có một nền văn minh tinh thần cao quý, đáng tự hào. Cụ thể thêm một mức nữa, ông kiêu hãnh khai mình là đứa con đích thực của sông Đà núi Tản nước Nam Việt. Khi trong thời hiện đại, hai chữ “thiên hạ” đã trở thành một khái niệm mở (điều này Tản Đà ý thức được rất rõ), đặc biệt khi đất nước đã mất chủ quyền, kiểu nói như vậy của nhà thơ rõ ràng chứa đựng cả một cái thái độ tự tôn dân tộc, một tình cảm “non nước” đáng quý. Cũng qua câu thơ, tác giả đã ngầm cho biết lai lịch của bút hiệu Tản Đà – một điều đã từng được ông thể hiện trong nhiều bài thơ khác.
Tản Đà xưng rõ danh tính, hóm hỉnh hơn, nhà thơ còn khẳng định cả phong cách ngông của mình qua việc mượn lời của “Thiên tào” tra sổ: Bẩm quả có tên Nguyễn Khắc Hiếu/ Đày xuống hạ giới vì tội ngông. Rõ ràng việc tự nhận mình là trích tiên (ngầm so sánh mình với Lý Bạch) là một cái tôi rất mực ngông nghênh của Tản Đà. Tự nhận mình là tiên nghĩa là gián tiếp khẳng định mình cao hơn mọi người.Và ông tiên ấy vì ngông mới bị đày xuống hạ giới. Văn thơ trước đó không phải không có người ngông, nhưng tự nhận mình là ngông như Tản Đà thì thật là hiếm. Sau khi đối thoại với Trời, ngông hơn, nhà thơ còn tự nhận trách nhiệm và sứ mệnh cao cả của người nghệ sĩ nói chung và của bản thân mình nói riêng là lo việc thiên lương cho nhân loại dưới cõi trần tục: Trời rằng không phải là Trời đày/ Trời định sai con một việc này/ Là việc thiên lương của nhân loại/ Cho con xuống thuật cùng đời hay. Việc thiên lương là một luận thuyết về cải cách xã hội của Tản Đà. Ông quan niệm thiên lương là nhân tố cơ bản thúc đẩy sự tiến bộ xã hội, là sự thống nhất toàn vẹn của ba “chất” trong con người: lương tri (tri giác trời cho), lương tâm (tâm tính trời cho) và lương năng (tài năng trời cho). Theo ông, nếu chú ý bồi đắp, thực hành thiên lương thì có thể cải tạo được tình trạng luân thường đảo ngược, phong hóa suy đồi và sự trì trệ, lạc hậu của xã hội Việt Nam thời đó. Như vậy, Tản Đà muốn bất mãn trước cuộc đời nhưng ông vẫn luôn tha thiết vì đời, quan điểm viết văn là để phục vụ việc thiên lương cho nhân loại. Viết văn hay làm cho đời đẹp là nhiệm vụ mà trời đã trao cho nghệ sĩ.
Bài thơ Hầu trời được Tản Đà viết vào đầu những năm 20 của thế kỉ XX. Đây là thời kì mà thơ Việt Nam đang tiến vào quỹ đạo hiện đại, hình thức thơ cũng có nhiều biến đổi: bài thơ dài, mỗi bài nhiều khổ, ngôn ngữ từ “điệu ngâm” chuyển sang “điệu nói”. Bài thơ Hầu trời của Tản Đà là một cách tân đáng kể về thể thơ. Tản Đà không dùng các thể thơ cũ như thất ngôn bát cú, tứ tuyệt, lục bát, song thất lục bát …như các bài thơ trước đó mà dùng thể thơ thất ngôn trường thiên.Với ưu thế không hạn định về số câu, niêm, luật, vần, đối, ngắt nhịp hết sức tự do, thể thơ này đã giúp Tản Đà đi đến tận cùng trong việc thể hiện những cung bậc cảm xúc trong tâm hồn, chuyển tải thành công câu chuyện hư cấu tưởng tưởng và kể chuyện một cách linh hoạt. Điều ấy góp phần không nhỏ trong việc thể hiện cái ngông của nhà thơ, tạo nên một sự hài hòa giữa nội dung và hình thức. Chỉ có trong một thể loại thơ tự do phóng khoáng thì cái tôi ngông ấy mới có đất thỏa sức thể hiện mình. Như vậy, ngay trong việc lựa chọn thể thơ phần nào đã thể hiện cá tính tác giả. Tản Đà được mệnh danh là “ảo thuật gia” về ngôn ngữ…thì với Hầu trời hoàn toàn ngược lại. Ngôn ngữ trong bài thơ Hầu trời là thứ ngôn ngữ gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày, ít có những ước lệ, cách điệu như trong thơ trung đại, đôi khi có phần suồng sã. Những câu thơ dường như cứ tự nhiên tuôn ra một cách hết sức thoải mái: Trời lại sai con việc nặng quá/ Biết làm có được mà dám theo. Có thể nói việc đưa ngôn ngữ đời thường dung dị mà vẫn rất gợi cảm vào thơ ca là sáng tạo độc đáo về mặt nghệ thuật của Tản Đà. Ngôn ngữ thơ ở Hầu Trời đã có sự xâm nhập của giọng điệu văn xuôi và ngôn ngữ bình dân. Không quá câu nệ vào vần luật nên mạch cảm xúc được phát triển rất tự nhiên và cái Tôi cá nhân đã thoả sức bộc lộ và thể hiện mình. Đó là một kiểu ngông rất nghệ sĩ, vui vẻ và đáng yêu. Bài thơ đã phác hoạ một chân dung thi sĩ Tản Đà với phong cách ngông độc đáo, đó là cái ngông của một nhà nho tài tử ở thời kì mà ý thức cá nhân bắt đầu được trân trọng và khẳng định. Giọng điệu trong bài thơ Hầu trời khá linh hoạt: đó là giọng kể mang tính tự sự phối hợp với giọng trữ tình nhiều sắc điệu, khi hóm hỉnh hài hước, lúc thì sôi nổi phóng khoáng, khi lại ngậm ngùi, chua chát. Với giọng điệu tương đối tự do, linh hoạt, cách biểu hiện cảm xúc của tác giả trở nên phóng túng, tự do, không bị gò ép. Đây cũng chính là một cách tốt nhất để tác giả có thể thể hiện cái ngông và cá tính của mình.
Tản Đà đã một mình làm được “cơn gió lạ”. Nối dài một truyền thống sáng tạo, ông đã đưa lại cho Văn học Việt Nam thời cận đại hàng loạt những sáng tác mẫu mực. Đóng góp lớn nhất của ông là việc thể hiện con người cá nhân, khẳng định ý thức cá nhân một cách mạnh mẽ, táo bạo. Trong đó Hầu Trời là bài thơ đẹp đẽ nhất. Tuy lịch sử văn học đã vượt qua ông để tiếp tục cuộc vận hành bất tận với những tên tuổi mới, nhưng gạt Tản Đà ra khỏi sẽ thấy một khoảng trống vô cùng to lớn. Hầu trời là bài thơ không chỉ mới ở tình điệu cảm xúc, không chỉ thể hiện một ý thức cá nhân mới, một cái tôi rất gần với cái tôi thơ Mới sau này mà còn có những đổi mới đáng kể về mặt hình thức nghệ thuật. Và như ai đó đã từng nói Hầu Trời chưa phải là bài thơ hay nhất của Tản Đà nhưng là minh chứng rõ nhất cho “người của hai thế kỉ”.
V.T.T.T
(GV Văn - THPT Chuyên Lê Quý Đôn Bình Định)
V.T.T.T
(GV Văn - THPT Chuyên Lê Quý Đôn Bình Định)
Thứ Tư, 9 tháng 2, 2011
Tình tự Tràng giang
Tương tư đôi chốn, tình ngàn dặm
Vạn lí sầu lên núi tiếp mây...
Ta có nghe chăng, vọng từ âm hưởng tràng giang nỗi sầu lan tỏa?
Ta có nghe chăng, âm điệu Đường thi gặp gỡ tâm tình người thanh niên thời đại lãng mạn?
Và lại chợt nghe một lời ngâm dìu dặt, từ một không gian Huy Cận:
Tai nương nước giọt mái nhà
Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn...
Vạn lí sầu lên núi tiếp mây...
Vọng về từ không gian những vần thơ Huy Cận, đánh thức trong lòng ta chút cảm thức về vũ trụ bao la và phận người nhỏ bé - giữa bầu trời mặt đất là cái tình vương vấn đậm chất lãng mạn của một "chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm...".
Nói đến Huy Cận là nói đến cái sầu vũ trụ thời Thơ Mới - khi lòng người thanh niên quá hoang mang trước bao biến động cuộc đời, mong tìm một chút tình bấu víu, tìm một tấm lòng sẻ chia. Nỗi niềm ấy kết đọng trong Tràng giang, bàng bạc lòng quê giữa mênh mang sóng nước.
Ta có nghe chăng, vọng từ âm hưởng tràng giang nỗi sầu lan tỏa?
Ta có nghe chăng, âm điệu Đường thi gặp gỡ tâm tình người thanh niên thời đại lãng mạn?
Và lại chợt nghe một lời ngâm dìu dặt, từ một không gian Huy Cận:
Tai nương nước giọt mái nhà
Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn...
Có bao ẩn tình từ sóng nước tràng giang! Vô tình lại nhớ đến lời của người phát ngôn tinh thần Thơ Mới - Hoài Thanh: "Đi sâu vào hồn của một người, ta gặp được hồn của nòi giống; đi sâu vào hồn một nòi giống, ta gặp hồn chung cho cả loài người...". Phải chăng vì vậy mà ta gặp Thôi Hiệu của một "nhật mộ hương quan hà xứ thị", một Đỗ Phủ "Tái thượng phong vân tiếp địa âm" mà Nguyễn Công Trứ dịch thành tứ "Mặt đất mây đùn cửa ải xa" ...trong các câu chữ, hình ảnh thơ của Tràng giang. Và dẫu cho có "cách hơn một nghìn năm và hai thế giới", hóa ra nỗi buồn con người thời đại nào cũng có sự gặp gỡ trong ý thức về thân phận, về nhân thế!
Điều đọng lại trong tình tự tràng giang chính là lòng quê sâu thẳm, cái tình quê đậm đà ...để làm điểm tựa cho cánh chim cô đơn chấp chới trong bóng chiều trĩu nặng, để sáng bừng lên nắng chiều dát bạc tỏa sáng lòng sông, lòng người. Thương và đáng trân trọng biết bao lời thơ của những ngày non nước chìm đắm trong cảnh nô lệ, để đánh thức từ cảm nhận về sự bơ vơ lạc loài một tình yêu dân tộc, đất nước!
1.2011
T.H.N
Điều đọng lại trong tình tự tràng giang chính là lòng quê sâu thẳm, cái tình quê đậm đà ...để làm điểm tựa cho cánh chim cô đơn chấp chới trong bóng chiều trĩu nặng, để sáng bừng lên nắng chiều dát bạc tỏa sáng lòng sông, lòng người. Thương và đáng trân trọng biết bao lời thơ của những ngày non nước chìm đắm trong cảnh nô lệ, để đánh thức từ cảm nhận về sự bơ vơ lạc loài một tình yêu dân tộc, đất nước!
1.2011
T.H.N
Thứ Ba, 8 tháng 2, 2011
Cái tôi trữ tình của Huy Cận
- ĐỖ LÊ BẢO DUYÊN
Nỗi buồn của nơi quán chật đèo cao, của sông dài trời rộng, nỗi buồn
rất buồn và cũng rất xôn xao. Với Huy Cận, những nỗi buồn ấy như triền
miên, day dứt hơn bao giờ hết khi tiếng của điệu hồn thiên cổ cất lên,
làm cho mạch sâu ngàn năm chợt da diết, chơi vơi.
của đêm mưa cô đơn hiu hắt, trong niềm nhớ thương trải ra cùng với
những hồn thơ hoang mang, nặng trĩu một nỗi sầu cho suốt một thời kìrất buồn và cũng rất xôn xao. Với Huy Cận, những nỗi buồn ấy như triền
miên, day dứt hơn bao giờ hết khi tiếng của điệu hồn thiên cổ cất lên,
làm cho mạch sâu ngàn năm chợt da diết, chơi vơi.
Thứ Hai, 24 tháng 1, 2011
Tràng giang- Bài viết của Hồ Minh Tú
“Ông không làm mê ta bằng màu sắc và âm điệu;ông có một sức quyến rũ lạ lùng hơn, khó hiểu hơn; là mùi thơm…;thơ ông không phải là rượu rót vào chén, thơ ông là men đương lên,…”- cái men thơ Huy Cận đã từng làm say ông hoàng thơ tình Xuân Diệu.Thi sĩ xuất hiện giữa làng thơ Việt Nam lúc ấy làm chếnh choáng bao tâm hồn khao khát đồng điệu. Huy Cận đã mang cái hương vị rất riêng của ông vào trong thơ, cái “hồn buồn Á Đông” man mác, mà thấm thía trong từng dòng chảy “Tràng Giang”.
Người sinh ra trong thế kỉ đau buồn của dân tộc. Cũng như bao lớp người trẻ tuổi lúc đó, trước thực tại bế tắc, thi sĩ không khỏi hoang mang, mất niềm tin vào cuộc đời. Người đã trút mọi nỗi niềm vào thơ ca, nên mỗi tác phẩm đều là mỗi lời tâm tình tha thiết, từ đáy lòng vang ra, dội ngược vào trong đáy lòng- cái thế giới cô đơn đầy ám ảnh của ông. Có lẽ bởi đồng cảnh ngộ, tâm thế chung của các nhà thơ Mới đã thấm thía một cách đầy đủ trong ông nhưng không phải vì thế mà ông trở nên mờ nhạt , tiêu tan. Đã từng có một Xuân Diệu “sôi nổi, bồng bột”; một Chế Lan Viên “kì dị’’, một Hàn Mặc Tử “đau thương” đến điên cuồng, một Nguyễn Bính bình dị, chân quê,… làm rung chuyển nền móng thơ vốn cũ kỹ, sáo mòn trước kia, thay vào đó là những cảm xúc mới mẻ, tinh vi. Huy Cận không là ai nhưng cái tôi trữ tình trong thơ ông có dấu ấn đậm nét đối với người đọc, mà nói như Hoài Thanh, đó là sức mạnh kì lạ của một tâm hồn “ảo não như Huy Cận”. Cùng một số bài thơ khác trong phong thơ Mới,Tràng Giang để lại ấn tượng khó phai theo thời gian, tưởng chừng bây giờ vẫn còn nguyên vẹn cái hồn buồn não nề ấy, tha thiết gọi về.
Xưa kia, trên bến Tràng Giang, bao li khách sắp sửa ra đi mà lòng không khỏi bồi hồi, xao xuyến bởi cảnh sông nước xa xăm kia gợi lại. Nay, đứng trên bến con sông Hồng quê nhà, không phải đi xa nhưng dường như Huy Cận cũng mang tâm trạng của li khách thuở
nào, mà nhớ thương, mà luyến tiếc một nỗi niềm không tên. Những tình cảm ấy dâng đầy trong ông, để tứ thơ cứ miên man chảy mãi:
“Sóng gợn Tràng Giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song,
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng.”
Ngay từ khổ đầu đã thấy hiện lên những hình ảnh đầy u buồn. Dòng sông, con thuyền, cành củi khô quen thuộc trong cổ thi lại hiện về nhưng không thấy những ước lệ sóng đôi về con thuyền- bến nước,… như xưa. Thay vào đó là sự hiện hữu rời rạc của cảnh vật. Những con sóng không buồn nhấp nhô, hòa mình vào sông lớn mà cứ chậm rãi từng gợn nhẹ, từng gợn nhẹ, rồi biến mất trong dòng chảy mênh mông. Nhịp điệu buồn tẻ ấy cứ lặp đi lặp lại, “điệp điệp” , làm nỗi sầu như kéo dài thêm, triền miên, vô tận. Con thuyền cũng không buồn lái, để mặc xuôi theo dòng nước lặng lờ. Ngay cả dòng nước trong bản thân con sông cũng không thiết đến nhau, cứ âm thầm mà chảy ‘:song song”, vờ không quen biết nhau trong đời. Từ những hiện tượng tưởng như vô tri vô giác đó, Huy Cận đã khiến người đọc hình dung ra một thế giới có thật của sông nước với tình cảm dửng dưng như con người. Là bởi con mắt nhà thơ nhạy cảm quá, nên thấy đâu cũng một tình cảnh như mình. Không những vậy, đối với chia li, người lại có dự cảm tinh tế hơn. Người thấy trong dòng nước,mà ta có thể tạm liên tưởng đến dòng đời kia, sự cách biệt không thể nào tránh khỏi. Đến một lúc nào đó, trên cuộc hành trình của mình, chỉ còn nước mải miết trong cô độc. Vốn lòng sông đã rộng thênh thang, nay lại thêm dài ra, rộng ra bởi nỗi “sầu trăm ngả” của dòng nước. Trơ trọi lại càng thêm trơ trọi , rời rạc lại nối tiếp rời rạc, cành củi khô một mình lạc lõng giữa dòng chảy, không biết đi đâu về đâu gợi nỗi chua xót thân phận xiết bao! Không phải là một “bông hoa tím biếc” “mọc giữa dòng sông xanh”(Thanh Hải) mà là nhành củi khô ráo hoảnh sự sống, một nhành củi rỗng ruột, vô vọng. Nó thay lời tác giả với cuộc đời, như khúc ru buồn vẫn tiếp tục điệu nhạc réo rắt, thê lương của nó:
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.
Đến đây, bài thơ mới thấy xuất hiện những âm thanh đầu tiên. Nhưng trước hết phải nói đến khung cảnh nơi mà âm thanh đó được lắng nghe: trên cồn đất nhỏ, xung quanh không có một sự trỗi dậy nào to lớn hơn. Bốn bề không gian bát ngát với núi non hùng vĩ, sự tồn tại của gò đất càng thêm cô độc, lẻ loi . Sở dĩ ta có thể nhìn được toàn cảnh vậy là vì Huy Cận đã phát huy hết mọi giác quan của mình để đặc tả “cồn đất”,từ đó gợi lên sự rợn ngợp của không gian. Nhà thơ có lần bộc bạch rằng chữ “đìu hiu” là học được từ Chinh phụ ngâm: “Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò”. Đến Huy Cận, nó phảng phất nét cổ điển nhưng cũng mang cảm giác hắt hiu, đơn côi của cái tôi thi sĩ trước thời cuộc. Trạng thái “lơ thơ” cho thấy vẻ tiêu điều, xơ xác đã phủ trùm lên cảnh vật và chiếm lĩnh thế giới nội tâm nhà thơ. Ta thấy rất rõ cảm quan về không gian vũ trụ vô tận của tác giả, mà trong đó sự sống bé nhỏ càng thêm đơn độc hơn, như bị bỏ rơi giữa cuộc đời. Điều đó cắt nghĩa rằng, trong thế giới của riêng mình, Huy Cận không phải đã xóa sạch những dấu ấn của thơ xưa, mà vẫn giữ lại những nét đẹp, những nét thi vị để giãi bày tâm tư. Đặc biệt là thủ pháp “lấy động tả tĩnh” được thi sĩ đan cài khéo léo vào thơ mình, tạo cho cảnh vật nét gần gũi và đượm tình hơn . Ấy là “tiếng làng xa” vọng về, thứ âm thanh mơ hồ của một phiên chợ đã vãn theo gió lan xa mãi. Nhưng ở nơi “đâu” thì tác giả không xác định được. Những âm vang yếu ớt ấy rồi cũng chìm và cảnh chiều hư vô, càng gợi thêm sự vắng vẻ, hiu quạnh nơi đây. Không gian trở nên tịch mịch, u uất . Nó trái hẳn với tiếng “lao xao” thuở nào Nguyễn Trãi ẩn dật nơi thôn quê lắng nghe được. Nó mồ côi, trống vắng. Để lại trong lòng người đọc cảm giác rờn rợn khó hiểu. Có người cho rằng Huy Cận dễ buồn quá, lại đứng trong cảnh chiều buồn nên mới sinh ra những câu thơ âu sầu vậy. Nhưng tôi tin là tự trong lòng người đã chất chứa đầy nỗi buồn nên nó thấm vào cả từng cảnh vật, lan ra bao phủ khắp không gian. Mọi sự cũng buồn theo. Bởi vậy mà trong những hình hài tưởng như rất mới mẻ, vui tươi, người lại thấy nỗi buồn: “ Nắng xuống, trời lên sâu chót vót”. Thật vậy, nắng không ủ rũ, trời không ủ dột nhưng chính sự vận động của chúng tạo nên một khoảng cách không thể nào lấp đầy. Bình thường, đáng lẽ là chiều cao, cao vời vợi nhưng nhà thơ đã tài tình biến nó thành chiều sâu, sâu chót vót để chứa đựng nỗi sầu não vô biên của mình. Người lại thấy bến đợi của một mình mình, mất hút giữa cái rộng lớn khôn cùng của trời đất, mang tên cô liêu. Người cho ta đi mãi, đi mãi để rồi lại gặp người cô quạnh, và người tự bắt gặp mình… Nơi đó cảnh thật đẹp, nhưng buồn và lạnh lẽo quá, nên càng gặp mình thi sĩ lại càng run sợ và ớn lạnh hơn. Cuộc nói chuyện với lòng mình trong hoàn cảnh cô đơn chẳng khác nào dày vò tâm hồn thêm đau đớn. Nó trăn trở không ít lần trong Huy Cận, khiến cho nhiều bài thơ khác của người cũng mang dáng dấp của “Tràng Giang”, đẹp nhưng lạnh lẽo:
Một trời thu rộng, mấy hàng mây nao.”
Cảnh vật thiếu vắng tình người, không có một chút sự xuất hiện của con người. Bà Huyện Thanh quan trước kia chạnh lòng vì cảnh thung lũng hoang vắng, cũng còn nhận thấy sự hiện diện của con người dù là thưa thớt “Lom khom dưới núi tiều vài chú- Lác đác bên sông chợ mấy nhà”(Qua đèo Ngang). Còn với Huy Cận thì tuyệt nhiên chỉ có cảnh với cảnh, ngay cả cái “quán dựng” cũng chẳng hi vọng được thấy sự sống, dù chỉ là mong manh. Chỉ có những nét vẽ quanh co của tạo hóa, với gió, với mưa và bầu trời ăm ắp mây hòa quyện trong một bức tranh hữu tình. Nhưng cảnh đẹp chỉ để gió và thời gian bào mòn mà không có người thưởng thức thì liệu có còn ý nghĩa gì nữa? Phải chăng, Huy Cận đã mượn những nỗi buồn vẩn vơ đó để gửi tâm sự gì kín đáo sâu bên trong, mà một tâm hồn đầy phức tạp như ông không thể nào diễn tả hết bằng lời?
Nhưng chưa dừng lại ở đó, cái tôi của thi sĩ còn đi sâu hơn nữa vào ngọn nguồn của sự cô đơn:
“ Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;
Những cánh bèo nối nhau trôi lênh đênh trên dòng chảy vô định. Không phải vô lí khi cho rằng nhà thơ có chút tủi hờn, oán trách số mệnh. Cũng như bèo kia, thân phận của những con người sinh ra phải chịu chung kiếp nô lệ của dân tộc mình, đất nước mình chẳng mong một tiền đồ tươi sáng. Đau khổ, nhục nhã nhưng bất lực trước thời cuộc rối ren, người trẻ tuổi dễ cảm thương những kiếp sống như mình, “bèo dạt mây trôi”. Huy Cận còn thấy sâu trong đó, cái toàn cảnh của cuộc đời: tất cả mối dây liên lạc đều bị cắt đứt, mọi sự liên hệ chỉ còn là ảo ảnh, quá khứ. Dòng sông rộng vô cùng nhưng không có lấy một con đò, một chiếc cầu để nối liền giữa hai bờ. Cho đến đây, bài thơ đã lần lượt dẫn dắt người đọc đến những khung cảnh đẹp nhưng càng về sau càng buồn, càng trống trải. Giả sử bài thơ đơn thuần chỉ vẽ nên những bức tranh như thế và chấm hết tại đây thì khó lòng gây được dư vị sâu sắc trong lòng người đọc. Khổ cuối cũng chính là khổ thơ hé mở cho người đọc biết điều gì thật sự ẩn sau trái tim đa sầu đa cảm ấy của nhà thơ:
‘ Lớp lớp mây cao đùn núi bạc’
Có thể nói cảnh vật hiện lên ở khổ cuối là cảnh vật cô đọng nhất nhưng cũng hàm chứa nhiều ý nghĩa nhất. Tầng tầng lớp lớp những áng mây chồng chất lên nhau như chất chứa cả nỗi niềm ẩn khuất của nhà thơ. Động từ “đùn” diễn tả trạng thái hoạt động tràn đầy sức sống, ánh sáng chiếu vào lấp lánh như màu bạc. Cả bài thơ chỉ có mỗi dòng này le lói sự sống tươi mới, rực rỡ. Nhưng ngay câu thơ sau lại lên cảnh khác trái ngược hẳn: bóng chiều buông xuống đè nặng lên cánh chim bé nhỏ, lạc lõng giữa bầu trời rộng thênh thang. Dường như có nét gì tương đồng với những lớp mây dày trên kia, cánh chim có thể hiểu như hình tượng ám chỉ những thân phận chơ vơ giữ dòng xoáy cuộc đời, mà nhà thơ là một trong số đó. Trách nhiệm, bổn phận và những nỗi lo âu như bóng chiều của ngày tàn khiến cho cánh chim mỏng mảnh như chao nghiêng vì sức mạnh. Dầu là những dựu cảm mù mịt về tương lai nhưng ít ra nó cũng gợi cho nhà thơ mối liên hệ với cuộc đời dường như chỉ chứa đựng toàn mâu thuẫn kia. Cũng vì vậy, nó cho ta chiếc chìa khóa khám phá sự thật đang diễn ra trong lòng nhà thơ: tấm lòng yêu nước kín đáo. Chẳng vậy, dầu đang đứng ngay trên mảnh đất quê hương mình, mà tác giả vẫn nhớ thương quê nhà, có lẽ là một khung cảnh bình yên trong quá khứ. Vì chưng giờ đây dấu chân giặc đã giày xéo trên mồ mả cha ông, tấm lòng nào còn trọn vẹn thủy chung thì chỉ còn biết giữ cho mình một nỗi nhớ thương. Cái nỗi niềm “ dợn dợn” ấy của thi sĩ mới thật tinh nhạy và đáng quý biết bao. Kết thúc bài thơ nhưng dư âm cứ mở ra mãi bởi làn “khói hoàng hôn” không có thật, mà trong lòng người lại thấy hiện lên thật cái cảm giác đau buồn, nhung nhớ. Câu trả lời đến đây mới sáng rõ, cái tôi tưởng như muốn xa lánh cuộc đời ấy lại là một cái tôi khao khát gắn bó với đời biết bao nhiêu. Huy Cận thi sĩ thật khéo léo khi cất giấu cái tình tràn đầy của mình vào nỗi sầu câm lặng, triền miên vô bến.
Có đọc hết những bài thơ khác trong tập Lửa thiêng của Huy Cận mới thấu rõ cái buồn ấy không phải là nhất thời. Trong phong trào Thơ Mới, người là thi sĩ ôm nỗi buồn nhiều nhất: sầu thương, sầu nhớ, sầu đau. Với người thời gian kéo dài tới “vạn kỷ”, “ngàn xưa”, cái thời gian của quá khứ để ghi dấu cho những tình cảm bất biến, vĩnh hằng. Thế nhưng, hiện tại vẫn cứ phơi bày, càng trốn tránh thi sĩ càng vấp váp sự đời, tình đời. Cho nên cái buồn của người là buồn thiên cổ, luông thường trực đến não nề. Bất cứ khi nào hồn buồn của người va chạm với cảnh vật, thì tình lại tuôn trào:
Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn.”
Người lắng nghe tiếng nước nhỏ giọt trên mái nhà, từng tiếng một rơi chậm rãi, nặng nề mà liên tưởng đến ngay trời xanh kia cũng chung một nỗi niềm u ám, thì quả là người dễ mẫn cảm với nỗi sầu. Câu thơ như kéo chùng xuống bởi điệp từ hai lần xuất hiện, nhân đôi tình người chất chứa bên trong. Bao giờ ta cũng thấy thiên nhiên trong thơ người tự đã mang vẻ hiu hắt, lặng thầm, như ấp ủ điều gì trước cả con người. Đó là bởi nét bút tài hoa của thi sĩ, người luôn tạo dựng, kết hợp chúng với nhau theo phong cách của riêng mình, bày tỏ hộ tấm lòng người.Dẫu rằng cái tôi buồn, cô đơn, yếu đuối và nghạo nghễ là cái dấu vết mà bất kì nhà Thơ Mới nào cũng từng hằn lên thơ mình, nhưng với Huy Cận thì rõ ràng, cái buồn được thiên vị hơn, ưu ái hơn.Đến nỗi chẳng cần phân bua, giải thích gì, thi sĩ cũng được người đời gán cho phong độ buồn… đến não nuột. Lắm khi thấy người buồn vô cớ nhưng tâm thì vẫn cứ bất động, không để lộ một cử chỉ gì quá khích ,dù là một cái nhíu mày, một nét mặt chán nản. Thay vào đó là những ánh nhìn khắc khoải hơn, có nhìn sâu vào trong mới phát hiện được. Ấy vậy mà đôi lúc không kìm nén được người đã thảng thốt bật ra lời ai oán đầy chua xót của mình:
Đặt câu hỏi hòng vơi lấp nhưng thi sĩ che sao nỗi yếu đuối đang bóp thắt con tim người. Tự vấn hay để thấy đời bi lụy đến chừng nào? Một thi sĩ khéo giấu tâm sự tâm sự riêng như Huy Cận mà cũng có lúc bi quan đến thế. Bởi lẽ, nỗi thương cảm của nhà thơ với đồng loại dường như vô nghĩa với riêng người khi ngoài kia vẫn tiếp tục những số phận khổ đau, yếu ớt chống cự với cuộc đời. Tâm sự đó khiến cho một buổi chiều vô hình trở thành hữu hình, có thân phận nhưng là thân phận thiệt thòi: mồ côi. Trong con mắt thi sĩ, cái nghĩa lí của cuộc đời đã băng giá, vì tình người cũng thiếu vắng, lạnh lùng như tiết trời giá rét kia. Lại một lần nữa, ta thấy cảnh “đìu hiu” xuất hiện trong thơ Huy Cận. Nhưng giờ đây nó lại ghi dấu chiêm nghiệm cay đắng của tác giả, dù chỉ rất mờ ảo. Người đã khám phá ra qui luật phai tàn của cuộc đời. Một ngày kia, “màu đá cũ” sẽ bị khuất lấp mất giữa muôn trùng cơn bão cát thời gian. Đâu đấy, người ta dễ liên tưởng đến cái ngắn ngủi của kiếp người, đột ngột tan biến mất.Phải chăng Huy Cận buồn vì lẽ đó?r Đúng nhưng vẫn chưa đủ, cái mà người thật sự sợ không phải là cái chết mà là sự lãng quên.Vì thế sự phai tàn tong mắt người là mất đi ý nghĩa đối với người khác trong đời. Sợi dây mỏng manh duy nhất níu kéo thi sĩ trở về chính là ân tình còn vương vấn ở đời. Vì chưng không phải hết thảy thực tại đầu là điều xấu xa, bạc bẽo mà vẫn còn xót lại những tâm hồn dạt dào mãi cô liêu như người. Đó là đôi phút hiếm hoi, người tìm thấy nét đáng yêu đời ban tặng : tình yêu trong sáng, thánh thiện:
Huy Cận khi yêu cũng rụt rè, e thẹn như ai. Những rung động đầu đời khiến cho người tình thi sĩ trở nên rực rỡ, đẹp lộng lẫy hơn bao giờ hết. Màu áo trắng trong như tình em. Mỗi bước đi của em tỏa hương thơm ngát, dịu dàng mà gieo vào lòng anh bao xuyến xao. Ai có ngờ được “ chàng Huy Cận khi xưa hay buồn lắm” lại tươi trẻ thế trong tình yêu. Cái vẻ ông cụ non, già đời biến đâu mất. Chỉ còn Huy Cận hết lòng với tình yêu, yêu chân thành, nâng niu từng giây phút. Không rạo rực băn khoăn như bạn thơ Xuân Diệu , mà tình Huy Cận đằm thắm, e ấp. Người không đòi hỏi được ôm trọn tình yêu mà chỉ lặng thầm yêu bởi . Người sợ rồi tình yêu sẽ không bền vững, nên càng tha thiết thì càng đau đớn lúc vỡ tan. Ngay cả khi còn yêu, người cũng thấy vời vợi nỗi xa cách, cắt chia:
“Tương tư đôi chốn, tình ngàn dặm
Thế nhưng vẫn không sao tránh khỏi bùi ngùi, xót xa khi đối mặt với sự thật phũ phàng:
Những lời thơ tưởng như rất bình thường, thản nhiên nhưng lại ẩn chứa nhiều đau thương nhức nhối nhất. Chẳng cần khóc lóc, kêu gào thảm thiết mà có những vết thương cắt sâu hơn nữa, quặn thắt, nuốt ngược nỗi đau vào bên trong. Có thể đã chạm phải quá nhiều tổn thương ở cuộc đời mà người khiến lòng mình như tĩnh lặng bằng nỗi sầu miên man. Kì thực là để đau thương không còn dậy sóng. Nhưng sao trách được cái hồn đầy yêu thương của người, thi thoảng gợn dậy mối đồng cảm sâu xa.
Có thể nói, giải mã hết những bí ẩn của hồn thơ Huy Cận quả là điều không dễ dàng chút nào. Nhưng ít nhất, đọc người , ta cũng hiểu được mình và đời hơn. Thơ người thấp thoáng phong vị Đường thi trong những đường nét cổ điển mềm mại, uyển chuyển nhưng cũng tiếp thu cái mới trong hình thức câu chữ, cấu tứ phóng khoáng, tự do của thi ca hiện đại. Cái tôi của người vừa ẩn vừa hiện, vừa như tan ra mênh mang khắp cảnh vật. Bên cạnh những hình ảnh quen thuộc của ca dao, thơ xưa,thi sĩ còn sáng tạo ra những hình tượng mới mẻ, sự kết hợp mới lạ: chiếc áo trắng tượng trưng cho tình yêu đầu, nắng xuống- trời lên,… Tất cả kết tinh lại trong nỗi sầu nhiều màu nhiều vẻ làm nên hồn thơ khó quên của thi s Huy Cận. Êm đềm, dịu dàng mà ám ảnh mãi bởi những tâm tư sâu kín bên trong.
Với Lửa Thiêng, Huy Cận đã đóng góp cho thơ Mới một viên ngọc quý, đêm bầu bạn cùng những tâm hồn đang rơi vào tuyệt vọng, bế tắc lúc bấy giờ. Để nhận ra rằng ta cô đơn nhưng không mình ta giữa cuộc đời này, mà có bao hồn khác cũng ước mơ yêu thương như ta. Dẫu rằng có phần tiêu cực, yếm thế nhưng Thơ Mới nói chung, thơ Huy Cận nói riêng đều là tiếng nói tha thiết của người con dân tộc, đau nỗi đau quê hương.Bởi vậy vai trò tiền đề đối với nền thơ ca Cách mạng sau này là không thể phủ nhận, góp phần làm phong phú,dồi dào hơn cho dòng chảy văn học Việt Nam.
Thứ Năm, 13 tháng 1, 2011
Về Chữ người tử tù
Đề luyện tập: Quan niệm về cái Đẹp của Nguyễn Tuân trong truyện ngắn Chữ người tử tù.
BÀI VIẾT THAM KHẢO:
Nguyễn Tuân (1910 – 1987) cả một đời văn đi tìm cái Đẹp. Nhưng khác với Thạch Lam, tâm hồn ông hướng về vớ i những nét toàn thiện toàn mĩ , vượt lên khỏi giới hạn của cái bình thường, luôn nhìn nhận thế giới và con người ở phương diện thẩm mĩ – văn hoá.
Vang bóng một thời như là một điểm xuất phát của quan điểm nghệ thuật mang dấu ấn cá tính con người tài hoa tài tử Nguyễn Tuân. Mười một truyện ngắn dựng lên những chân dung đặc sắc khó quên của một thời quá vãng, tiêu biểu cho khuynh hướng thoát li của Nguyễn Tuân trước cách mạng : những thú chơi tao nhã, những con người của quá khứ xa xăm, thực ra là một cách cắt nghĩa cho tấm lòng của nhà văn vốn nặng tình cùng thời vàng son dĩ vãng. Nhưng ẩn chứa trong tập truyện là một tâm hồn dân tộc yêu tha thiết những giá trị đã trở thành truyền thống. Bên cạnh đó, tác phẩm còn là nơi gửi gắm tâm sự yêu nước, tâm trạng bất hoà của một người trí thức luôn cảm thấy bức bối trong khuôn đời chật hẹp. Cảm hứng đặc biệt mãnh liệt của Nguyễn Tuân gắn với những nhân vật đối lập với trật tự khuôn phép phong kiến, thể hiện tập trung trong truyện ngắn Chữ người tử tù, giúp ta hiểu sự chân thành sâu lắng của Nguyễn Tuân trong cái vỏ khác người kiêu bạc.
Tác phẩm là câu chuyện xoay quanh nét chữ của Huấn Cao – người tử tù bất khuất. Xung quanh trục chính của câu chuyện là những nhân vật thầy thơ lại, viên quản ngục và Huấn Cao. Họ vốn là kẻ thù với nhau trong cuộc sống, nhưng lòng yêu cái Đẹp giúp họ tìm đến với nhau như những người bạn tâm giao.
Thứ Hai, 10 tháng 1, 2011
Cái đẹp trong văn Thạch Lam
Với nhà văn Thạch Lam (1910-1942), vẻ đẹp là một cái gì chỉ hiện ra mong manh thấp thoáng nên dễ bị bỏ qua. Ông viết: "Cái đẹp man mác khắp vũ trụ, len lỏi khắp hang cùng ngõ hẻm, tiềm tàng ở mọi vật tầm thường...". Cái đẹp trong văn Thạch Lam là cái đẹp cổ điển: đẹp và buồn.
Không phải nhà văn tiền chiến nào cũng thích nói đến cái đẹp. Đọc các truyện ngắn truyện dài của Nguyễn Công Hoan hay cả loạt phóng sự và tiểu thuyết phóng sự của Vũ Trọng Phụng, người ta thấy cái đẹp hầu như vắng mặt. Có vẻ nó giống như một thứ hàng xa xỉ, không dây dưa gì đến cuộc đời nhếch nhác này, và để được chân thành trong câu chuyện, tác giả ngầm bảo ta rằng, tốt hơn hết là không nên nhắc tới nó làm gì (!?)
ở một ngòi bút như Thạch Lam (cũng như ở Khái Hưng, Nguyễn Tuân, Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh...) thì tình hình hoàn toàn ngược lại. Từ những bài báo nhỏ đến những truyện ngắn cô đọng, viết văn với Thạch Lam đồng nghĩa với việc săn sóc tới cái đẹp, và nhắc nhở về sự có mặt của nó với mọi người. Ông nói tới vẻ đẹp trong thiên nhiên: buổi trưa vắng vẻ ở một làng quê hay ban mai yên ả ở một xóm nhỏ trung du (Dưới bóng hoàng lan, Nắng trong vườn). Ông nói tới vẻ đẹp hồn hậu trong xúc động đơn sơ của một thanh niên lần đầu làm cha, hoặc cái cảm giác lạ lùng của mấy em nhỏ trong một ngày chớm rét (Đứa con đầu lòng, Gió đầu mùa). Đối với những con người khiêm nhường mà cuộc sống bị đè nặng bởi những lo toan hàng ngày, Thạch Lam biết tìm ra những nét tính cách cao quý, nó là nhân tố làm cho người ta tồn tại và nhờ vậy, lại toát lên một vẻ đẹp riêng (Nhà mẹ Lê, Tối ba mươi). Một nét quán xuyến trong cách nhìn đời của Thạch Lam: tác giả luôn luôn mách thầm với chúng ta rằng vẻ đẹp là một cái gì chỉ hiện ra mong manh thấp thoáng nên dễ bị bỏ qua. Ông viết trong Theo dòng: "Cái đẹp man mác khắp vũ trụ, len lỏi khắp hang cùng ngõ hẻm, tiềm tàng ở mọi vật tầm thường. Công việc của nhà văn là phải hiểu cái đẹp chính ở chỗ mà không ai ngờ, tìm cái đẹp kín đáo bị che lấp trong sự vật, cho người khác một bài học trông nhìn và thưởng thức".
Quan niệm cổ điển và một thoáng gặp gỡ Đông - Tây
Năm 1940, khi Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân được in ra lần đầu, Thạch Lam sớm có bài giới thiệu quyển sách trên báo Ngày nay (số ra 15-6-1940). Bài báo đáng được lưu ý, không phải chỉ vì nó đã nói đúng về Nguyễn Tuân mà còn là một dịp để Thạch Lam tự bộc lộ. Chỉ trong khuôn khổ chưa đầy 1.000 chữ, ông đã năm lần nhắc tới cái đẹp và những từ ngữ ông dùng để đi kèm chính là những thuộc tính mà theo ông có liên quan tới cái đẹp chân chính. Đó là vẻ nên thơ, sự cao quý, cái có ý nghĩa, rồi cả sự khoáng đạt và một chút nồng nàn. Cũng có đến mấy lần ông nhắc lại hương vị cũ kỹ và nhẫn nại của một sự hy sinh, hoặc tâm tình yêu mến dĩ vãng, tiếc thương và muốn trở lại những vẻ đẹp đã qua.
Cũng từ đây, người ta đọc ra một quan niệm về cái đẹp mà tác giả Gió đầu mùa theo đuổi. Trưởng thành từ một cốt cách học trò, người viết văn này dễ rung động với những gì thấp thoáng, dịu nhẹ. Ông tỏ ra xa lạ với những vẻ đẹp chói chang, quyến rũ, hoặc là cái lối có gì mang bày hết cả ra ngoài, phô phang lộ liễu. Hình ảnh mà ông thích nhất là bông mai trong trắng. Trong sự kín đáo và ẩn nhẫn biết điều, vẻ đẹp ông hay nói tới thường hàm chứa một sức sống tiềm tàng. Một quan niệm như thế phải nói là có nhiều chất cổ điển. Giữa thế kỷ của văn minh công nghiệp trong cái thời mà máy móc và các mốt thời trang bắt đầu du nhập và ngày càng bành trướng trong xã hội, văn chương Thạch Lam có vẻ là một thứ dòng nước ngược đưa người ta trở lại với quan niệm về cái đẹp của phương Đông hoặc gần gũi hơn, trong cách hiểu về cái đẹp thường thấy ở ông cha ta. Vậy đâu là tác động của yếu tố thời đại đến ngòi bút này? Thực ra ở đây yếu tố thời đại vẫn có, nhưng cách ảnh hưởng của nó tới Thạch Lam lại có những nét đặc trưng riêng. Nên nhớ là giữa nền văn hóa Pháp được du nhập vào Việt Nam lúc ấy và văn hóa phương Đông cổ truyền không phải chỉ có khác biệt mà còn có nhiều nét chung. Văn hóa cổ điển Pháp cũng nổi tiếng vì sự trong sáng, sự tinh tế và tinh thần nhân bản. Thứ nữa khi tiếp nhận nền văn hóa này, lớp người như Khái Hưng, Thế Lữ, Huy Cận, Xuân Diệu hoặc Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân... đã đứng vững trên mảnh đất quê hương ruột thịt. Trong sách vở mà nhà trường dạy họ cũng như trong những quyển sách họ đọc ở ngoài đời có những lời lẽ khuyên họ phải biết trở về với cội nguồn dân tộc. Về phần mình, trong sáng tác văn chương, Thạch Lam sớm tự xác định cho mình một con đường riêng. Ông cho rằng, có một công việc mà một ngòi bút tự trọng nên đảm nhận, đó là làm sống lại cái đẹp, cái thực vốn là những tính cách cố hữu trong nền văn hóa cổ truyền. Người và cảnh ông miêu tả vì vậy thường có thêm chiều sâu trong thời gian. Cái đẹp được ông chắt chiu gạn lọc. Tuy không nói ra trực tiếp, nhưng từ những gì ông tha thiết, thấy toát lên một lời giáo huấn kín đáo: nếu không được trân trọng giữ gìn, cái đẹp vốn đã mong manh sẽ tan mất đi và chúng ta sẽ mãi mãi sống trong bơ vơ tiếc xót.
Nỗi buồn giấu kín
Nhưng có lẽ đặc tính đáng nhớ nhất của cái đẹp trong văn Thạch Lam ấy là nó thường được miêu tả với một nỗi buồn sâu xa. Cảm giác chính còn lại trong người đọc sau khi đọc nhiều trang sách, từ Gió đầu mùa đến Sợi tóc, là một cuộc đời mờ mờ xám xám. Hãy nhớ lại Cô hàng xén, thiên truyện bao quát gần hết cuộc đời của một con người. Những phiên chợ quê nhiều mầu sắc, thoáng qua rất nhanh, cùng với những năm tháng tuổi trẻ, ấp ủ nhiều hy vọng của người con gái chăm chỉ và giàu tình thương gia đình. Rồi cái khía cạnh người ta nhớ hơn cả khi nghĩ tới Tâm, ấy là con đường từ chợ về nhà vắng vẻ, cùng những lo âu đè nặng tâm hồn cô trong cuộc sống hàng ngày. Ngòi bút Thạch Lam thường tỏ ra có sự nhạy cảm lạ lùng với những gì đã an bài hoặc những nếp sống đã trở thành mòn mỏi. Một buổi tối phố huyện, nhà cửa như thiếp dần đi trong ánh sáng những ngọn đèn dầu leo lét. Những điệu hát xẩm vẳng lên trong một xóm nghèo. Mấy bức tranh dân gian mầu sắc đạm bạc. Cảnh tết sơ sài ở một xóm nhỏ ngoại thành... Thạch Lam bằng lòng chấp nhận cuộc sống như nó đang có, nhưng vẫn không thôi tự nhủ lẽ ra nó phải khác kia, làm sao nó lại chỉ như chúng ta đang thấy! Một cảm giác bao trùm còn lại: Đời đẹp và buồn. Và nhờ gắn với cái buồn, cái thực, mà vẻ đẹp trong văn Thạch Lam lại có được sự sống riêng. Nó trở nên bền chắc. Nó không lẫn đi giữa những vẻ đẹp nhạt nhèo mà những cây bút tầm thường mang ra để an ủi bạn đọc. Cái thuở thanh bình xa vắng tác giả Gió đầu mùa hay nói tới giờ đã qua đi từ lâu, song sống trong tấp nập ồn ào, các thế hệ đến sau vẫn có thể tìm thấy ở cái vẻ đẹp cổ điển mà Thạch Lam hay nói tới một sự đồng cảm. Cổ điển ở đây đồng nghĩa với sống mãi.
Vương Trí Nhàn
(Báo Thể thao và Văn hóa)
Nam Cao và niềm khát vọng về một cuộc sống có phẩm giá, có tư cách
Nam Cao (1915 - 1951) tên thật là Trần Hữu Trí, quê ở làng Đại Hoàng, nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Nam Hà. Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, có lúc Nam Cao dạy học ở một trường tư thục, nhưng khi trường bị đóng cửa, ông sống bằng nghề viết báo, viết văn, làm gia sư. Năm 1943, Nam Cao gia nhập nhóm Văn hóa cứu quốc ở Hà Nội. Bị khủng bố, ông phải lánh về quê và tham gia Tổng khởi nghĩa tại đó. Năm 1946, Nam Cao có mặt trong đoàn quân Nam tiến vào đến Nam Trung Bộ. Sau đó, ông lên chiến khu Việt Bắc, làm công tác tuyên truyền, báo chí, văn nghệ ở Trung ương, tham dự chiến dịch biên giới năm 1950. Tháng 11 năm 1951, trên đường vào công tác vùng địch hậu, Nam Cao bị giặc Pháp phục kích bắt và bắn chết tại bốt Hoàng Đan ở Ninh Bình.
Trong công tác, Nam Cao là một người chu đáo, có tránh nhiệm. Sau Cách mạng Tháng Tám, nhiều bạn bè đã nhìn thấy ông làm việc rất hăng say. Khi làm báo, làm việc ở xưởng in bên cạnh anh em công nhân, ở chiến dịch biên giới, hay trong đoàn cán bộ vào vùng địch hậu, người ta như bắt gặp một Nam Cao khác, không phải một Nam Cao rụt rè, nhút nhát, mà một Nam Cao dũng cảm, xông xáo, xung phong đi đầu trong khó khăn.
Nam Cao bắt đầu viết từ năm 1936. Ngoài truyện, ông còn làm thơ, soạn kịch. Nhưng chỉ từ năm 1941, với truyện Chí Phèo, ông mới thể hiện rõ tài năng độc đáo và xác định chắc chắn vị trí của mình trong nền văn học dân tộc.
Nói về sáng tác của mình trước Cách mạng Tháng Tám, trong một bản tự thuật, Nam Cao kể lại: "Ngoài những truyện ngắn đăng trên tờ Tiểu thuyết thứ bảy và một số sách nhi đồng (Truyền bá, Hoa mai)... đã viết một số tiểu thuyết dài, nhưng vì bị kiểm duyệt bỏ hay vì dài quá không in được: Ngày lụt, Cái mấu, Chuyện người hàng xóm, Sống mòn v.v... (trừ bản thảo Sống mòn vẫn còn giữ được, còn lại đều mất hết vì đã bán cho các nhà xuất bản cả rồi).
Do tình hình tác phẩm bị thất lạc rất đáng tiếc như vậy, cho nên ngoài vài vở kịch và dăm bài thơ không có gì đặc sắc và do đó ít được nhắc đến, tác phẩm của Nam Cao đến được với người đọc hôm nay chỉ gồm hơn 60 truyện ngắn, một tiểu thuyết và mấy tập bút ký.
Những truyện ngắn viết trước Cách mạng của Nam Cao đáng chú ý nhất là Chí Phèo, Dì Hảo, Nhỏ nhen, Cái mặt không chơi được, Lão Hạc, Trẻ con không được ăn thịt chó, Một bữa no, Sao lại thế này, Điếu văn, Từ ngày mẹ chết, Mua danh, ở hiền, Trăng sáng, Đôi móng giò, Lang Rận, Tư cách mõ, Đời thừa, Mua nhà, Những truyện không muốn viết, Cười, Quên điều độ, Nước mắt, Đón khách... Tiểu thuyết Sống mòn của Nam Cao hoàn thành năm 1944, nhưng mãi đến năm 1956, sau khi nhà văn mất, mới được xuất bản lần đầu. Truyện ngắn có giá trị nhất của Nam Cao viết sau Cách mạng Tháng Tám là Đôi mắt. Ngoài ra, trong thời gian này, ông còn có nhật ký ở rừng thể hiện rõ những chuyển biến tư tưởng của nhà văn trong những ngày tham gia kháng chiến.
Nam Cao quan tâm đến cả sinh hoạt nông thôn và thành thị, miêu tả nhiều loại người, đặc biệt là nông dân và trí thức nghèo. Nhưng dù miêu tả thành phần xã hội nào, ông vẫn đi sâu vào các số phận, các kiếp người, như chính nhà văn thường nói. Thái độ thương cảm, lòng trắc ẩn của ông dành nhiều cho những người cùng khổ, những người "dưới đáy" của xã họi những người hiền lành chất phác, nhưng đời sống quá vất vả, cơ cực, số phận hết sức hẩm hiu. (Nghèo, Dì Hảo, Lão Hạc, Một bữa no, Từ ngày mẹ chết, ở hiền).
Một loại nhân vật khác phần lớn cũng từ nông dân lao động nghèo mà ra, nhưng do những hoàn cảnh đặc biệt đưa đẩy, đã trở thành những tay trộm cướp, lưu manh, những con người bị tha hóa, bị què quặt cả về thể xác và tinh thần. Những con người ở bên lề xã hội hay phá phách này, cùng với những người điên, những người câm, những người dị dạng kỳ quặc đủ loại, càng tô đậm thêm bộ mặt cùng quẫn, bế tắc, mất nhân tính của xã hội (Chí Phèo, Đôi móng giò, Lang Rận, Tư cách mõ...).
Một loại nhân vật thứ ba khá đông đúc trong tác phẩm của Nam Cao, khác với hai loại người trên ở chỗ có trình độ học vấn, có ý thức hơn về thân phận, có nhiều băn khoăn suy nghĩ về ý nghĩa của cuộc sống, về giá trị làm người. Đó là những thầy giáo tiểu học, những viên chức nhỏ, những người làm báo, viết văn. Chính qua những người như Thứ, như Điền, như Hộ, như Độ, nhà văn đã trực tiếp gửi gắm những suy nghĩ của mình về cuộc sống, về nghệ thuật (Trăng sáng, Đời thừa, Sống mòn, Đôi mắt...).
Thông thường, ở một tài năng viết truyện, viết tiểu thuyết, thì sức mạnh tư duy sáng tạo tập trung ở nghệ thuật xây dựng nhân vật. Nam Cao, với khuôn khổ hạn chế của truyện ngắn, đã xây dựng được cả một loạt nhân vật để lại những ấn tượng khó phai mờ ở người đọc. Nhiều nhân vật của Nam Cao thật sự là những phát hiện mới mẻ, hết sức độc đáo, có khả năng tái sinh trong văn học về sau. Đó là các nhân vật như Chí Phèo, Thị Nở, Lang Rận, Trạch Văn Đoành. Người ta cũng rất khó quên những nhân vật như Bá Kiến, Lão Hạc, dì Hảo, Thứ, Hộ, văn sĩ Hoàng. Nhân vật của Nam Cao rất sinh động. Người đọc tưởng như có thể nhìn thấy họ đang đi lại, ăn uống, nói năng, cười khóc trước mặt mình. Chất sống ở những nhân vật của Nam Cao là do chất sống của cuộc đời thực mang lại. Nhà văn chọn lựa rất tinh những mẫu người, những chi tiết đặc sắc nhất để đưa vào tác phẩm.
Trong miêu tả nhân vật không phải lúc nào Nam Cao cũng chú ý đến ngoại hình. Nhưng, khi cần, Nam Cao cũng chứng tỏ biệt tài khắc họa ngoại hình nhân vật. Thí dụ như trường hợp Chí Phèo, Thị Nở, Lang Rận, Trạch Văn Đoành. Những con người với ngoại hình không bình thường, quái dị ta vẫn gặp ở ngoài đời, nhưng ngòi bút của Nam Cao khiến chúng ta nhìn chăm chú hơn vào họ và giật mình sửng sốt: hóa ra một phần của cuộc sống đã biến dạng, đã xấu xí, đã thoái hóa đến như vậy!
Nam Cao thể hiện sở trường ở miêu tả nội tâm, miêu tả diễn biến tâm lý của nhân vật. Nhà văn thường để cho nhân vật tự bộc lộ suy nghĩ, tâm trạng của mình, một mình tự nói với mình, sử dụng rộng rãi biện pháp độc thoại nội tâm, độc thoại bên trong. Điều này hết sức rõ rệt ở những nhân vật trí thức như Điền, như Hộ, như Thứ. Nhưng ngay cả những người tăm tối mà sự sống tưởng như chỉ quy vào tồn tại sinh vật, như Chí Phèo, Thị Nở, Lang Rận, anh cu Lộc. Cũng có đời sống nội tâm. Đời sống nội tâm, sự suy nghĩ, trăn trở là dấu hiệu của tính người, của trình độ sống.
Nét đặc trưng có sức lôi cuốn mạnh nhất trong tài năng và phong cách của Nam Cao là chất trữ tình ấm áp, lây truyền, thấm đậm hầu hết các trang viết của ông. Chất trữ tình này bắt nguồn từ nỗi buồn thương, đau đời của ông trước nỗi khổ không cùng của con người, từ lòng khao khát của ông về một cuộc sống có tình người, có phẩm giá, có tư cách. Chất trữ tình này cũng tăng thêm do chỗ nhà văn thường đi sâu vào tâm hồn, tâm trạng nhân vật, trực tiếp bày tỏ thái độ, tình cảm, tư tưởng của mình về cuộc sống, do tính chất tự truyện trong nhiều tác phẩm của ông.
Tài năng của Nam Cao thể hiện rõ ở chỗ: hầu như chỉ viết về cái hằng ngày, cái đời thường, với một cách viết khá dung dị và tự nhiên, ngòi bút của ông đã tái hiện những cảnh đời, nêu lên những chủ đề có tính chất xã hội và nhân văn sâu sắc, phảng phất mùi vị triết lý, khiến người đọc không chỉ một thời mà nhiều thời đọc đi đọc lại tác phẩm của ông. Tác phẩm của Nam Cao như những câu hỏi cứ xoáy sâu vào tâm trí người đọc, không phải câu hỏi "tồn tại hay không tồn tại", "sống hay không sống", mà là sống như thế nào cho ra sống, sống thế nào cho có phẩm giá, có tư cách, và muốn như vậy con người phải làm gì? Tư tưởng nhân văn chứa đựng trong các tác phẩm của Nam Cao không đơn thuần là lòng thương người, sự cảm thông với những con người bất hạnh, mà thức tỉnh danh dự làm người, buộc con người phải suy nghĩ về thực trạng mình đang sống, tìm cách để thoát ra khỏi kiếp sống thừa, sống mòn vô nghĩa. Đó là tư tưởng nhân văn mang nội dung tích cực. Dễ hiểu vì sao sau Cách mạng Tháng Tám, nhà văn đau đời, thương người ấy lại thiết tha như vậy với cuộc sống mới, say mê hoạt động như vậy, vừa với tư cách là nhà văn, vừa với tư cách công dân.
Nam Cao cũng là nhà văn có phần đóng góp quan trọng bậc nhất vào sự phát triển ngôn ngữ văn xuôi dân tộc.
Cũng như nhiều nhà văn hiện thực thời kỳ 1932 - 1945, Nam Cao rất chú ý khai thác tiếng nói hằng ngày của người dân, sử dụng có chọn lọc tiếng địa phương, tiếng nghề nghiệp trong tác phẩm của mình. Ngôn ngữ của ông phong phú, biến hóa, đầy sức sống, vừa có tính chuẩn mực của ngôn ngữ văn học dân tộc, vừa không rơi vào tình trạng "sách vở", trau chuốt thái quá thành nghèo nàn, giả tạo mà ta có thể bắt gặp trong một số tác phẩm lãng mạn thời đó. So với các nhà văn cùng thời, ngôn ngữ của Nam Cao đến bây giờ là ngôn ngữ ít cũ đi nhất. Chỉ cần đọc lại truyện Chí Phèo, thậm chí chỉ đoạn mở đầu truyện này, viết cách đây đã hơn nửa thế kỷ, ta sẽ thấy ngay ngôn ngữ của Nam Cao giàu có và sinh động như thế nào, hiện đại như thế nào.
Nam Cao là một nhà văn trong ý nghĩa đích thực và cao quý của khái niệm này. Ông là một nghệ sĩ, một nhà tư tưởng, một bậc thầy về tiếng Việt. Người đọc hứng thú, tự nguyện đến với ông vì tính chất chân thực, nhân bản sâu xa trong những tác phẩm của ông, vì ông sớm cảm nghe được một cách chính xác khuynh hướng hiện đại trong sáng tác văn học và thể hiện nó một cách thành công qua việc lựa chọn và miêu tả những hiện tượng tiêu biểu của cuộc sống, qua cách kể chuyện, cấu tạo tác phẩm và sử dụng ngôn ngữ thật mới mẻ và sáng tạo.
Giáo sư Nguyễn Văn Hạnh
(Tạp chí Xưa và Nay)
Thứ Sáu, 5 tháng 11, 2010
Tư liệu Xuân Diệu và Chế Lan Viên
Sự khác nhau trong quan niệm về thơ của
Xuân Diệu và Chế Lan Viên
Xuân Diệu và Chế Lan Viên
Nguyễn Văn Khánh
Trong tiến trình lịch sử văn học Việt Nam, không có trào lưu văn học nào đủ sức làm nên Một thời đại trong thi ca (lời tổng kết của Hoài Thanh) như phong trào Thơ mới (1932-1945). Sở dĩ tác phẩm có được điều đó là do số lượng và chất lượng đặc biệt phong phú, mới mẻ và độc đáo của các tác giả, tác phẩm thơ. Mỗi hiện tượng thơ dù trong quá khứ hay đang hiện hữu trên thi đàn, nếu thực sự có giá trị thì luôn tạo được sự hấp dẫn đối với công chúng và sự quan tâm luận bàn của thế giới nghiên cứu. Xuân Diệu và Chế Lan Viên là những nhà thơ như thế.
Cả hai ông đều là những nhà thơ lớn của nền thơ ca hiện đại Việt Nam thế kỷ XX mà sự tìm hiểu nghiên cứu vẫn nằm trong hệ thống mở, nó như một dòng chảy dạt dào không bao giờ ngừng nghỉ. Sự nghiệp văn học của hai ông mang một nghĩa đặc biệt quan trọng, đặt cơ sở cho việc xây dựng nền lý luận thơ ca hiện đại Việt Nam ở cả hai phương diện lý luận và thực tiẽn sáng tác.
Những điều hay, vẻ đẹp, nét độc đáo trong thơ của hai ông đã được phân tích nghiên cứu ở nhiều cấp độ và bằng nhiều phương pháp khác nhau. Tất cả đều đã đem đến những đóng góp khám phá mới đầy lý thú, trong đó có vấn đề quan niệm về thơ. Quan niệm về thơ thực chất là cách nhìn nhận đánh giá, cách hiểu về bản chất, chức năng, nhiệm vụ, mục đích của thi ca. Vậy quan niệm về thơ bộc lộ ở đâu và bộc lộ như thế nào qua hai nhà thơ lớn Xuân Diệu và Chế Lan Viên?
Thực tế cho thấy: quan niệm về thơ được bộc lộ khá rõ nét qua thơ, qua các bài phê bình tiểu luận, thậm chí ngay ở trong những lời trao đổi mạn đàm... của chính nhà thơ đó. Tuy ở mỗi thể loại, quan niệm về thơ bộc lộ với dáng vẻ và diện mạo khác nhau, nhưng xuyên chuỗi lại ta thấy nổi lên những quan điểm nhất quán mang tính quy luật trong quan niệm nghệ thuật của từng tác giả cụ thể.
Tư liệu Nguyễn Bính
Nguyễn Bính và hành trình đi tìm cái đẹp
Trần Thị Trâm
Trong Phong trào thơ Mới, “Xuân Diệu là người “mới nhất”, Hàn Mạc Tử “lạ nhất” và Nguyễn Bính “quê nhất” (1). Chính cái hương quê đậm đà ấy đã làm nên sức hấp dẫn của thơ ông:
Em là con gái trong khung cửi
Dệt lụa quanh năm với mẹ già
Lòng trẻ còn như cây lụa trắng
Mẹ già chưa bán chợ làng xa
(Mưa xuân)
Dù trong giai đoạn nào, thơ Nguyễn Bính cũng đạt kỷ lục về xuất bản và vẫn chiếm được nhiều cảm tình của độc giả. Ngay cả hôm nay, sau những giờ làm việc căng thẳng, nhiều người lại lặng lẽ tìm về với những vần thơ trong lành, thánh thiện của ông như một sự ngơi nghỉ cho tâm hồn trở nên thanh tĩnh, để được sống lại trong khung cảnh xóm thôn yên ấm hòa mục, trong bầu khí quyển của văn hóa dân gian nghìn đời và được ru lòng mình trong điệu hồn dân tộc:
Hoa chanh nở giữa vườn chanh
Thầy u mình với chúng mình chân quê
(Chân quê)
Thứ Bảy, 24 tháng 7, 2010
Bình giảng CHIỀU TỐI - HỒ CHÍ MINH
Đề luyện tập: Bình giảng bài thơ Mộ (Chiều tối) của nhà thơ Hồ Chí Minh.
BÀI VIẾT THAM KHẢO:
Những năm 40 của thế kỉ này, trên thi đàn văn học lãng mạn vang lên những vần thơ nặng trĩu buổi chiều của Huy Cận: “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc – Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa…”. Những câu thơ của chàng thanh niên trí thức tiểu tư sản đã mang theo tâm trạng bất lực của cả một lớp người đang ngột ngạt giữa xã hội đen tối Việt Nam dưới ách ngoại bang. Cũng trong một buổi chiều giữa nơi đất khách Trung Hoa, một người tù “tay bị trói giật cánh khuỷu, cổ mang vòng xích” đã để cảm xúc trải ra cùng không gian bao la, làm nên những vần thơ tuyệt tác, vừa cổ kính, vừa rất trữ tình thư thái:
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không
Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết lò than đã rực hồng
(Chiều tối – bản dịch)
Giờ đây, khi soi mình trong ánh hồng bếp lửa năm xưa ấy, ta chợt khám phá ra vóc dáng của một Con Người: Bác Hồ kính yêu!
Buổi chiều đã đi vào bao áng thơ cổ kim. Khung cảnh chiều về tối thường gợi nên chất thơ đặc sắc, nỗi buồn lắng đọng, suy tư về nhân sinh. Nhưng hoàn cảnh của Bác khi viết bài thơ khá đặc biệt, từ thân phận người tù đã vượt qua ám ảnh của cảnh đi đày. Cảm xúc trên đường đi của Bác đã lộ rõ cốt cách của thi nhân – chíên sĩ Hồ Chí Minh. Giả sử có một học giả nào đó làm một phép so sánh giữa bài thơ này của Bác với những bài thơ lừng danh của Lí – Đỗ, của Thôi Hiệu, e cũng khó phân biệt rõ, bởi bài thơ đã thấm đẫm phong vị Đường thi! Nhưng đọc thật kỹ, chúng ta vẫn nhận ra phong cách rất riêng – phong cách Hồ Chí Minh, rắn rỏi mà uyển chuyển, hiện thực mà trữ tình, cổ điển mà hiện đại.
Hiện thực của bài thơ cũng được mở ra theo lối cấu tứ Cảnh – Tình quen thuộc của thơ Đường. Thiên nhiên làm nền cho tâm trạng:
Quyện điểu qui lâm tầm túc thụ
Cô vân mạn mạn độ thiên không
(Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không)
Thiên nhiên mở ra vẫn là những nét quen thuộc của thi ca cổ điển: cánh chim – chòm mây – bầu trời, với nhịp điệu thời gian như lắng trầm xuống cùng với ám ảnh của buổi chiều. Ngày xưa Lí Bạch từng mô tả không gian “Chúng điểu cao phi tận – Cô vân độc khứ nhàn”, và chúng ta có thể nhận ra nét quen thuộc ấy trong những câu thơ này của Hồ Chí Minh. Tất cả như lắng đọng lại trong một thiên nhiên u trầm. Cảm nhận không gian cũng giống như các nhà thơ xưa, tạo ra sự đối lập giữa cánh chim, chòm mây với bầu trời rộng lớn! Dường như không gian được tạo ra từ sự đối lập như vậy cũng đã gợi sẵn một nỗi buồn trong cảnh. Cánh chim mỏi, chòm mây côi như mang theo nỗi niềm của người tù nơi đất khách quê người!Nhưng ngay trong cách nhìn cảnh, ta cũng nhận ra thái độ ung dung của con người. Hướng về bầu trời, cánh chim và chòm mây, Bác đã thật sự hoà hồn mình vào cảnh vật. Thần thái của hai câu thơ nằm ngay trong hai chữ “mạn mạn” vừa mang nét quen thuộc của thơ Đường, vừa bộc lộ cái ung dung trong xúc cảm của con người. Buổi chiều ấy dường như mọi hoạt động cũng lắng xuống, đám mây lơ lửng, lững lờ, man mác giữa không gian tạo thành độ sâu của khung cảnh. Rất tiếc bản dịch thơ đã không thể lột tả được khoảnh khắc rất thi sĩ của Bác trong điệp từ “mạn mạn” này! Khi hướng lòng lên với bầu trời, Bác cũng đã xóa nhoà ranh giới giữa người tù và một khách tự do. Tinh thần “tự do lãm thưởng vô nhân cấm” (Tẩu lộ) chính là ở điểm này.
Ngỡ như cảnh vật ấy sẽ gợi lên những nỗi buồn nhân sinh, ám ảnh thân phận thế nhưng bài thơ đã đem đến cho ta một cảm nhận hoàn toàn khác với các nhà thơ xưa:
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng
Như một điều thường thấy trong thơ Bác, hình ảnh ở hai câu thơ này chính là sự thể hiện mối quan tâm của Bác đến cuộc sống xung quanh! Trong những trường hợp như thế này, bản dịch thường tỏ ra bất lực. Bác rất mạnh dạn trong sử dụng từ địa phương Quảng Đông “bao túc” (ngô). Không những thế, hai câu còn thể hiện sự quan sát của Bác với hành động của con người trong không gian chiều tối. Điểm son trữ tình của bài thơ chính là chỗ này! Con người không phải chịu sự chi phối của cảnh vật như thơ cổ, mà con người đem lại sức sống cho khung cảnh chiều tối. Đặc biệt, đó là sự gắn kết “thiếu nữ” – “sơn thôn” đã cho ta thấy cảm xúc, hồn thơ của Bác. Người luôn luôn phát hiện mối quan hệ hoà hợp giữa người và cảnh vật. Không phải ngẫu nhiên có sự kết hợp này. Xóm núi như đẹp hơn, ấm áp hơn nhờ sự xuất hiện của thiếu nữ. Và thiếu nữ xuất hiện không hề đơn độc lẻ loi mà gắn với cộng đồng “sơn thôn” của mình. Đó là cách nhìn đặc biệt thường gặp trong thơ Bác:
Chùa xa chuông giục người nhanh bước
Trẻ dắt trâu về tiếng sáo bay
(Hoàng hôn)
Hay:
Làng xóm ven sông đông đúc thế
Thuyền câu rẽ sóng nhẹ thênh thênh
(Giữa đường đáp thuyền đi huyện Ung)
Chính vì tấm lòng Bác luôn hướng về con người, yêu mến con người nên ở đâu có sự xuất hiện của con người, một dấu hiện của cuộc sống là Người tìm thấy niềm vui. Dẫu rằng trong bài thơ chỉ là công việc xay ngô bình thường, nhưng Người đã lặng lẽ quan sát từ lúc “ma bao túc” (xay ngô) cho đến khi “bao túc ma hoàn” (ngô xay xong). Rõ ràng, người thiếu nữ ấy hiện ra trong công việc hết sức bình thường, nhưng ta nhận ra trong cái nhìn của Bác một thái độ trân trọng đặc biệt, nhờ đó vẻ đẹp của sức sống con người, của cuộc đời càng lộ rõ hơn.
Cũng từ tình cảm hướng về cuộc sống, bài thơ đã có một từ kết làm bừng sáng cả bài thơ. Cái độc đáo của tứ thơ cũng chính là điểm này: nói về chiều tối bằng sự xuất hiện của ánh sáng, không nói về thời gian mà người đọc lại cảm nhận rõ một khoảng thời gian từ chiều về tối! Bài thơ không khép lại bằng cảm giác về bóng đêm mà lại chan hoà ánh sáng, ánh sáng tạo nên từ cuộc sống đời thường giản dị. Ánh sáng nổi bật trong đêm tối, như là biểu tượng của sự sống. Ánh sáng ấy gắn với màu ưa thích của Bác – màu hồng. Ánh hồng của bếp lửa, ánh hồng trên gương mặt người hay màu hồng của tấm lòng lạc quan yêu đời của Bác? Màu hồng không chỉ mang ý nghĩa tượng trưng đặc biệt trong riêng bài thơ này mà trong nhiều bài thơ khác cũng thể hiện một ý nghĩa tương tự. Đó là màu sắc của lòng tự tin, ung dung và lạc quan hướng về tương lai.
Nói về cảnh chiều tối, Bác đã quên đi thân phận người tù, vượt lên hoàn cảnh. Ta lại gặp chủ thể trữ tình đằm thắm được bộc lộ kín đáo qua bài thơ. Bài thơ thể hiện một nét độc đáo trong phong cách thơ Hồ Chí Minh, “từ tư tưởng đến hình tượng thơ luôn luôn có sự vận động hướng về sự sống, ánh sáng và tương lai” (Nguyễn Đăng Mạnh). Ngọn lửa của con người làm điểm hội tụ, là trung tâm toả ấm nóng và niềm vui ra không gian rộng lớn. Đến thơ Bác, tư cách chủ thể của con người được phản ánh rõ nét và giàu sức sống, vừa cổ điển vừa lãng mạn.
Ta nhận ra trong nỗi buồn, niềm vui của Bác phẩm chất của một vĩ nhân: rất bình thường, giản dị nhưng mỗi câu thơ toả sức ấm của một ý chí mãnh liệt và sáng bừng lên hồng bao thế hệ, sự hài hoà giữa tình cảm và tinh thần thép đã làm nên những vần thơ sâu sắc thâm trầm./.
Trần Hà Nam
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)