CHÀO MỪNG

Chào mừng bạn đến với blog Học Văn của học sinh trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn Bình Định - Mọi thông tin liên hệ, đóng góp bài vở, xin gửi về vankhoa11@gmail.com hoặc liên hệ trực tiếp với lớp trưởng Chuyên Văn khoá 11 Đỗ Lê Bảo Duyên - LPHT Trần Thái Diễm Chi
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài liệu tham khảo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài liệu tham khảo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 21 tháng 8, 2012

Giá trị truyền thống con người Bình Định

(Tóm tắt Theo giáo trình Tình hình và nhiệm vụ địa phương tỉnh Bình Định)
Bình Định là nơi sinh cơ lập nghiệp chủ yếu của 4 dân tộc anh em: Bana, Chăm, H'rê (người bản địa) và người Kinh.
Lớp người Việt đầu tiên định cư ở Bình Định vốn phần lớn là những lưu dân được dùng để khai khẩn mảnh đất vừa khắc nghiệt vừa giàu tiềm năng này. Như vậy, "tổ tiên" của người Kinh ở Bình Định phần lớn là những người cùng cực dưới xã hội phong kiến, từ miền Bắc (chủ yếu là Bắc Trung bộ) vào định cư, lập nghiệp. (...)
Hơn 500 năm thường xuyên đấu tranh chống các thế lực thống trị phản động, chống ngoại xâm, chống thiên tai, cải tạo thiên nhiên xây dựng vùng đất mới, ở con người Bình Định đã hình thành được những truyền thống quý báu, những đức tính cao đẹp vừa đặc trưng chung của truyền thống con người Việt Nam,vừa có sắc thái riêng của con người Bình Định.
1. Truyền thống cần cù lao động xây dựng quê hương
Xa xưa, phần lớn diện tích đất Bình Định còn là những vùng đất hoang dã. Phía Bắc, phía Tây và phía Nam đều là rừng rậm. Phía Đông là biển và đầm lầy mọc đầy các lọai cây nước mặn. Khí hậu khắc nghiệt, thường xuyên nắng hạn, giông bão, lụt lội. Để tồn tại và phát triển, các dân tộc người quần tụ nơi đây phải đoàn kết, cùng nhau đổ mồ hôi, công sức để chinh phục thiên nhiên, khai khẩn đất đai,  dựng làng, mở thị.
Cùng với thời gian, nông nghiệp, ngư nghiệp và lâm nghiệp được hình thành và phát triển, tạo ra những vùng đất phì nhiêu: An Nhơn, Hoài Nhơn, Tuy Phước, Phù Mỹ... Nhân dân còn đắp thành, mở phố, xây dựng hải cảng, phát triển các nghề truyền thống và được lưu giữ cho đến ngày nay như nghề dệt, rèn, đúc, gốm, gạch ngói, làm nón, làm bánh, chế biến hải sản, mộc, cơ khí... Nhiều sản phẩm nổi tiếng như nhiễu, lụa, tơ tằm, gạch ngói (Phú Phong), rượu Bàu Đá, bún Song Thằng, nón Gò Găng (An Nhơn), bánh tráng nước dừa Tam Quan, nem Chợ Huyện, chả cá Quy Nhơn... Các làng nghề ở Bình Định trước đây đã từng cung cấp vũ khí, vải, quân lương cho nghĩa quân Tây Sơn, du kích, bộ đội trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Người lao động Bình Định được công nhận là năng nổ, khéo tay, từng làm ra nhiều công trình độc đáo, những sản phẩm thủ công nổi tiếng cả trong nước và ngoài nước.Vào thế kỉ XVII - XVIII, Quy Nhơn - Cách Thử từng là cửa cảng quan trọng với phố cổ Nước Mặn được ghi trên bản đồ hàng hải quốc tế.
Hiện nay, Bình Định có 54 làng nghề, vùng nghề, trong đó An Nhơn 17 làng nghề, Tây Sơn 10 làng nghề, Phù Mỹ 9 làng nghề, Phù Cát 5 làng nghề, Tuy Phước 3 làng nghề, Hoài Ân 2 làng nghề, Vĩnh Thạnh 2 làng nghề.
2. Truyền thống đấu tranh anh dũng 
- Thời kì phong kiến
- Thời kì thuộc địa nửa phong kiến
- Thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954)
- Thời kì kháng chiến chống đế quốc Mĩ 91954 - 1975)
3. Truyền thống văn hóa
Bình Định được xem là trung tâm của một vùng văn hóa lâu đời có nhiều tầng và nhiều lớp đan xen, đồng thời là một vùng đất hiếu học, khoa cử.
Trên dưới 4000 năm trước, cư dân lâu đời của dải đất miền Trung, trong đó có Bình Định là chủ nhân của một nền văn hóa độc đáo, được đặt tên là văn hóa Sa Huỳnh.(...) văn hóa của cư dân cổ trên đất Bình Định  xưa là văn hóa của những nhóm ngườithuo65c bộ lạc Dừa (Narikela Vamsa) - một bộ phận của người Chiêm Thành cổ.
Sau khi vương triều Indrapura chấm dứt vào khoảng năm 982 - 983, kinh đô của người Chiêm Thành chuyển vào Vijaya Đồ Bàn. Từ đó, đất Bình Định xưa trở thành đế đô của Vương quốc Chăm pa và phát triển phồn thịnh đến năm 1470. (...) Trên đất Bình Định nay còn để lại 8 cụm với 14 kiến trúc là di tích của một thời vàng son của văn hóa Chămpa. Tiêu biểu có thành Đồ Bàn, tháp Dương Long, Tháp Đôi... Ngoài ra còn có những khu di tich văn hóa như khu lò gốm Trường Cửu (ở Tây Sơn), các trung tâm gốm cổ trên đất Tây Sơn với Gò Hới, gò Cây Ké...
(còn tiếp)
THAM KHẢO LIÊN QUAN:
http://binhdinh.vietccr.vn/xem-tong-quan/dat-nuoc-con-nguoi-binh-dinh-default.html

Chủ Nhật, 25 tháng 3, 2012

TÌNH BẠN

  • NGUYỄN THỊ HOA (GV CÔNG DÂN)
Có ai đó từng nói rằng: trong cuộc đời của mỗi chúng ta, sự giàu có không phải ở chỗ bạn có bao nhiêu tiền mà ở chỗ bạn có được bao nhiêu người bạn tốt. Trên đời này không có cái nghèo nào bằng nghèo về tình bạn. Tình bạn là món quà vô giá mà thượng đế bạn tặng cho mỗi con người chúng ta. Tình bạn là cái không thể bán không thể mua mà có được, giá trị của tình bạn còn tuyệt hơn một núi vàng rất nhiều. Bởi vì vàng là một vật vô tri, vô giác, không biết nhìn cũng không có đôi tai để lắng nghe những tâm sự vui, buồn của chúng ta được, không có trái tim để thấu hiểu và không có được một bờ vai để chúng ta làm điểm tựa tinh thần.Vàng không thể đem lại cho bạn bình yên hoặc sự trở che khi bạn cần. “Một trong những hạnh phúc lớn nhất ở đời này là tình bạn, và một trong những hạnh phúc của tình bạn là có một người để gửi gắm những tâm sự thầm kín” (A. Manzoni).
“Bạn” không phải là một từ có thể dành cho bất cứ ai ta quen biết trong cuộc sống. Bỡi lẽ trong cuộc đời của mỗi chúng ta thông qua các mối quan hệ khác nhau: học tập, công việc, hàng xóm… có rất nhiều bạn nhưng trong số đó chúng ta hãy cố gắng tìm ra đâu là người bạn thật sự của mình. Chỉ những người biết hi sinh, biết chia sẻ, biết nhường nhịn, biết yêu thương cả điều hay lẫn điều dở của bạn mình, biết có mặt khi ta cần đến, biết lắng nghe những điều đôi khi ta không thể thổ lộ với ai, biết đỡ ta đứng dậy sau khi vấp ngã, biết kiên quyết chỉ ra sai lầm của ta... đó mới là một người bạn thật sự. Và đó là một tài sản quí giá nhất trong cuộc đời của mỗi con người chúng ta nên phải nâng niu, trân trọng, đừng bao giờ đánh đổi nó lấy bất cứ điều gì khác. " Dưới ánh mặt trời, thứ lấp lánh và tỏa sáng không phải là kim cương mà chính là tình bạn thật sự". Vậy thế nào là một người bạn thật sự?
Một người bạn thực sự sẽ là người có thể làm cho bạn cười ngặt nghẽo đến nỗi bạn không thể dừng lại được, là người làm cho bạn tin rằng thế giới này thật sự tốt đẹp, là người đã ngồi hàng giờ để thuyết phục bạn rằng thực sự cuộc đời vẫn chưa đóng lại với bạn và nó đang chờ bạn mở ra. Và khi bạn ngã qụy, thế giới quanh bạn dường như quá đen tối, trống rỗng thì người bạn ấy sẽ nâng bạn lên và lấp đầy những chỗ trống ấy. Người bạn ấy sẽ nắm lấy tay bạn và nói với bạn rằng: “ mọi chuyện rồi sẽ tốt đẹp thôi”. Người bạn ấy có thể dắt bạn qua những phút giây khó khăn của cuộc sống lúc buồn và cả những lúc mệt nhoài .
Bạn bè là người mà khi ở cạnh họ bạn cảm thấy rất an toàn, bởi lẽ: bạn biết chắc chắn họ quan tâm đến bạn và khi bạn gặp vấn đề thì họ sẽ luôn có mặt để lắng nghe bạn. Người ấy sẽ goi điện cho bạn mà chẳng cần lý do nào, đơn giản chỉ vị họ muốn biết cuộc sống hiện tại của bạn như thế nào dù họ có ở cách xa bạn hàng trăm kilômét.
Một người bạn là người ngăn bạn đừng phạm sai lầm và giúp bạn nếu như bạn chẳng may sai sót. Và một người bạn sẽ luôn ở bên cạnh bạn. Họ nắm lấy bàn tay của bạn, họ dõi theo cuộc sống của bạn ngay khi bạn ở rất xa, dõi theo bạn không chỉ bằng mắt mà còn bằng cả trái tim nữa. Họ là người luôn gắn bó và ủng hộ bạn. Họ nắm lấy tay bạn để tiếp thêm cho bạn niềm tin và sức mạnh. Họ dõi theo từng bước của bạn trên cuộc đời này và ngược lại bạn cũng dõi theo cuộc sống của họ. Cuộc sống của bạn không còn như cũ nữa nếu như không có những người bạn ấy nữa.
Tuy nhiên để có được một tình bạn như vậy thì tôi nghĩ rằng: bản thân chúng ta phải là một người bạn thật sự của họ. Bởi, cuộc sống này sẽ không có cái gì chỉ có “nhận” mà không “cho” đi bao giờ. Sống không chỉ để “nhận” từ người khác mà còn phải biết “cho” đi, nhưng khi ta “cho” đi không có nghĩa là mong “nhận” lại, mong người khác phải đền đáp công ơn của mình bỡi sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình, hạnh phúc là một điều rất kì diệu, ta chỉ nhận được nó khi đem nó trao cho người khác. “ Chẳng phải tốn nhiều công sức mới làm cho người ta hạnh phúc. Chỉ là một cử chỉ nếu bạn biết cách; chỉ là một lời nói thích hợp. Chỉ là sự điều chỉnh nho nhỏ trong một cái chốt, cái vít hay một con ốc trong cỗ máy tâm hồn tinh xảo của bạn” (Frank Crane). Và nếu bạn đã tìm thấy một người bạn như thế, bạn đã cảm thấy hạnh phúc và đầy đủ bởi vì bạn không còn lo âu, bạn đã có một tình bạn mãi mãi trong cuộc đời và nó sẽ không bao giờ kết thúc. 

Thứ Bảy, 24 tháng 3, 2012

10 GƯƠNG MẶT TRẺ VIỆT NAM TIÊU BIỂU 2011

(Theo DÂN TRÍ)
10 Gương mặt trẻ Việt Nam tiêu biểu - Họ là ai?
(Dân trí) - Giải thưởng Gương mặt trẻ Việt Nam tiêu biểu đã chính thức vinh danh 10 cá nhân ưu tú nhất thuộc 5 lĩnh vực hoạt động khác nhau. Và cùng khám phá những nỗ lực của họ trong thời gian qua để thành quả như ngày hôm nay…
 >> Tác giả bài văn “lạ” trường Ams “trượt” Gương mặt trẻ VN tiêu biểu
 

1. Nguyễn Huy Hoàng

Giải Nhất kỳ thi HSG tỉnh lớp 12 THPT tỉnh Nghệ An môn Vật lý năm học 2010 – 2011

HCĐ Olympic vật lý châu Á năm 2011.

HCV Olympic vật lý quốc tế lần thứ 42 tại Thái Lan năm 2011.

Được nhận bằng khen của Thủ tướng chính phủ, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, Chủ tịch UBND tỉnh nghệ An.
 
 
2. PGS.TS Phạm Hoàng Hiệp

Là PGS trẻ nhất Việt Nam (được phong năm 2011, khi anh 29 tuổi).

Năm 2008, khi mới 26 tuổi anh bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ tại đại học Umea (Thụy Điển).

Hoàn thành 23 bài báo khoa học, trong đó có 19 bài đăng ở tạp chí quốc tế trong danh mục ISI, nhiều bài đăng ở các tạp chí trong nước, tham gia nhiều hội nghị, hội thảo quốc tế.

Anh được nhiều Giáo sư nổi tiếng nước ngoài mời tham gia cộng tác. Hiện anh đang làm việc và nghiên cứu tại Viện Fourier, ĐH Grenoble (Pháp).

Công dân trẻ tiêu biểu Hà Nội năm 2011.
 
 
3. Vũ Trọng Thư 

Thành lập phòng nghiên cứu không gian F Space, thực hiện dự án chế tạo vệ tinh nhỏ F-1 CubeSat, dự kiến sẽ được phóng lên vũ trụ tháng 7/2012 trên tàu vận tải HTV-3/HIL-A của JAXA.

10/2009: Được Liên đoàn vũ trụ quốc tế IAF trao học bổng tham dự Hội nghị Vũ trụ Quốc tế IAC thứ 60 tại Daejeon, Hàn Quốc, có bài trình bày về dự án F-1.

4/2010: Lần đầu tiên thực hiện thành công liên lạc radio qua phản xạ bề mặt Mặt trăng (Earth-Moon-Earth communication) giữa Hà Nội với các trạm radio tại Mỹ và Nga.

6/2010: Nhận học bổng tham dự khóa học Space Studies Program tại trường đại học vũ trụ quốc tế ISU ở Strasbourg, Pháp.

10/2010: Tham dự hội nghị IAC thứ 61 tại Praha, CH Czech có bài trình bày về chủ đề khai thác tài nguyên trên các tiểu hành tinh Astcroid mining.

3/2011: Tham dự cuộc thi thiết kế chùm vệ tinh nhỏ Nanosatellte Mission Idea Contest, vào đến vòng chung kết và được mời trình bày tại trường Đại học Tokyo về ý tưởng chùm vệ tinh nhỏ giám sát tàu biển.

2/2012: Giải nhất cuộc thi thiết kế giải pháp công nghệ cứu ngư dân trước thảm họa bão do Tập đoàn hàng không vũ trụ và quốc phòng châu Âu EADS tổ chức tại Việt Nam, được mời tham dự Triển lãm hàng không quốc tế Singapore Airshow 2012

3/2012: được giáo sư Nakasuka Shinichi, Khoa Kỹ thuật hàng không vũ trụ, Trường Đại học Tokyo mời tham gia dự án UNIFORM chế tạo chùm vệ tinh nhỏ 50kg có nhiệm vụ phát hiện và cảnh báo cháy rừng sớm
 
 
4. Phạm Đức Thạch 

Là thành viên của Hợp tác xã gồm 9 người. Quy mô trang trại chăn nuôi, tập trung đa con với diện tích 55 ha tạo việc làm cho 32 lao động. Tổng kinh phí đầu tư là: 13.093.000.000 đồng.

Số lượng con chăn nuôi: Gà: 20.000 con/năm, Hươu: 100 con/ năm, Bò: 120 con/năm, Nhím: 150 con/cặp, cá 60.000 con/lứa, lợn rừng 50 con/năm.Sản lượng sản phẩm hàng năm: Gà cỏ 20 tấn, nhung hươu 70kg , bê con lấy thịt 100 con, nhím con 250 cặp, lợn rừng 2,5 tấn, cá thịt 100 tấn.

Được Trung ương Đoàn tặng Bằng khen liên tục từ năm 1999 đến năm 2006. Năm 2006 được Hội Liên hiệp Thanh niên tỉnh Hà Tĩnh tôn vinh danh hiệu Thanh niên tiên tiến.
 
 
5. Lê Cát Trọng Lý 

Năm 2009, được chọn hát trong chương trình của ca sĩ Fracis Cabrel tại Hà Nội.

Năm 2010, biểu diễn tại Trung tâm Văn hóa Pháp L’Espace, tạo được dư luận tốt với 3 đêm diễn liên tục cháy vé; tham gia Festival Huế; tham gia lưu diễn văn hóa “Việt Nam ơi” tại Na Uy.

Năm 2011 tổ chức tua biểu diễn xuyên Việt hát cho cộng đồng, đạt hiệu ứng xã hội cao được quần chúng nhiệt liệt hưởng ứng và yêu mến.

Phát hành album đầu tay "Lê Cát Trọng Lý" vào ngày 20/1/2011
 
 
6. A Yung 

Là Bí thư Chi đoàn luôn gương mẫu, nhiệt tình, tích cực tham gia các hoạt động phong trào do Đoàn cấp trên phát động. Với đặc thù là Chi đoàn có 100% đoàn viên là người dân tộc thiểu số, tích cực tuyên truyền, vận động làm thay đổi cách nghĩ, cách làm, tập tục lạc hậu từ đó tập hợp thanh niên tham gia vào làm công nhân và sinh hoạt tại chi đoàn nông trường. Quan tâm đến việc phát triển đoàn viên mới, giới thiệu đoàn viên ưu tú cho Đảng xem xét, kết nạp. Tổ chức cho 100% đoàn viên ký cam kết và thực hiện tốt nội quy, an toàn vệ sinh lao động.

Luôn tiên phong trong việc tham gia vào tổ tự quản bảo vệ sản phẩm, bảo vệ vườn cây, tránh thất thoát sản lượng mủ của đơn vị. Là cá nhân có tỷ lệ vượt mức kế hoạch sản lượng cao nhất của đơn vị. Trong năm đã cùng với tổ khai thác được 103 tấn mủ quy khô đạt 102% kế hoạch được giao, nhận khoán chăm sóc vườn cây đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật và là đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua lao động sản xuất của nông trường. Tích cực tham gia phong trào luyện tay nghề, thi thợ giỏi cấp công ty và cấp ngành, cuối năm 2011 được bầu làm tổ trưởng tổ khai thác.

- Bằng khen của T tập đoàn Công nghiệp Cao Su VN năm 2010;

- Bằng khen của Ủy ban TƯ Hội LHTN Việt Nam năm 2010;

- Bằng khen của BCH Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Gia Lai năm 2009, 2011;
 
 
7. Nguyễn Thị Yến 

HCV giải VĐ Đông Nam Á tổ chức tại Việt Nam năm 2010

- HCV giải VĐTG tại Indonexia năm 2010

- HCV giải VĐ Đông Nam Á tổ chức tại Indonexia năm 2011

- HCV SEA Games 26

HCV giải VĐ trẻ toàn quốc, HCV giải Cup các CLB Pencaksilat toàn quốc, HCĐ Đại hội TDTT toàn quốc năm 2010.
 
 
8. Hoàng Phạm Trà Mi 

- Giải Nhất cuộc thi piano quốc tế F.Chopin tại Singapore.

- HCV liên hoan piano châu Á tại Cheoun Hàn Quốc năm 2010.

- Tham gia tích cực vào các hoạt động Đoàn, Hội.
 
 
9. Nguyễn Sĩ Bính

Ngày 7/3/2011 trực tiếp trinh sát nội tuyến trong chuyên án 042L cùng lực lượng đánh án thành công bắt giữ các đối tượng trên Cửa khẩu Huổi Puốc-Mường Lói. Kết quả bắt giữ 3 đối tượng người Lào; 04 bánh hêrôin, 1 668 viên ma túy tổng hợp, 01 súng ngắn tự tạo, 4 viên đạn.

Ngày 2/10/2011 trực tiếp trinh sát nội tuyến trong chuyên án 051L bắt giữ 2 đối tượng; thu giữ 2 bánh hêrôin, 01 xe máy.

Ngày 8/10/2011 trực tiếp trinh sát nội tuyến trong chuyên án 052L bắt giữ 01 đối tượng người Mông; thu giữ 04 bánh hêrôin, 01 xe máy, 01 súng ngắn K54.

Ngày 20/10/2011 trực tiếp trinh sát nội tuyến trong chuyên án 053LV bắt giữ 02 đối tượng người Lào; thu giữ 10 bánh hêrôin, 38 kg thuốc phiện, 02 xe máy, 01 súng K59, 01 súng AK, 01 súng CKC, 32 viên đạn K59, 15 viên đạn K56, 01 quả lựu đạn, 25 cây vàng, 4 kg bạc trắng, 01 khối kim loại màu đen nặng 6kg (đối tượng khai là đồng đen), 120 triệu kíp Lào, 3000 NDT, 200 bạt Thái.

Từ 2009-2011 đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở.

Năm 2011: Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Bằng khen của Bộ An ninh tỉnh Phong Xa Lỳ-Nước Cộng hòa DCND Lào vì đã có thành tích xuất sắc trong chuyên án 053LV; 02 Bằng khen của UBND tỉnh Điện Biên.

Đang được Bộ Quốc phòng đề nghị Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Chiến công Hạng 2.
 
 
10. Trần Trung Kiên 

Từ 6/10 đến nay đã trực tiếp tham gia phá 13 chuyên án, bắt 30 đối tượng, thu giữ 11 bánh heroin, 600 viên ma túy tổng hợp, 1kg thuộc phiện, 10 xe môtô ,20 điện thoại di động cùng nhiều tài sản có giá trị khác lên quan đến các vụ án.

Ngoài ra đã tham mưu cho lãnh đạo đơn vị và trực tiếp tham gia phá thành công 02 chuyên án truy xét, bóc gỡ 02 đương dây mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy liên tỉnh, bắt 12 đối tượng, làm rõ các đối tượng đã buôn bán vận chuyển hành chục bánh hêrôin như các chuyên án: Chuyên án 810 – A, chuyên án 112H, chuyên án 120B, chuyên án 221 – A, chuyên án 409 – T, chuyên án truy xét 1010A, chuyên án 2011G...

01 Huân chương chiến công hạng Nhì (năm 2011)

02 Bằng khen Bộ Công an (năm 2008, 2011)

Vũ Phong
(tổng hợp)

Thứ Ba, 25 tháng 10, 2011

Nguyễn Đăng Mạnh từ bục giảng tới văn đàn


  • CHU VĂN SƠN


1. Đôi nét phác hoạ
Những người gần Nguyễn Đăng Mạnh đều nhận thấy ông rất mê dùng hai chữ “sang trọng” và “nhếch nhác”. Với nghĩa thông thường thì ít thôi, còn nhiều hơn là với hàm nghĩa đã được nới rất rộng, rất phóng, rất vui nữa.
- Nhếch nhác! Trích ai không trích lại đi trích cái tay ấy!
- Tay này bị báo chí đánh, đâm sang trọng ra, lên giá hẳn!
Người ra đã quen nghe đến nỗi, trong một cuộc họp Hội đồng lí luận Hội Nhà văn, có vị đã dùng chữ “sang trọng” với cái vẻ ấy, thì được nhắc khéo ngay: ấy chớ, đó là “chữ của ông Mạnh”. Thế có khác chi một sở hữu độc quyền! Oái oăm nhất là, một bạn văn nào đó của ông đã nghĩ ra cái tình huống: nếu cấm dùng hai chữ ấy, thì ông Mạnh hết đường xoay sở! Tôi nghĩ xoay sở thì không khó gì. Nhưng chắc chắn là mất hẳn đi cái giọng, cái khí sắc Nguyễn Đăng Mạnh. Chả là mấy chữ không đâu kia lại là một thứ qui chiếu rất riêng của ông.
*
Bắt đầu là một kỉ niệm thời tôi còn là sinh viên. Chẳng biết có phải do ấn tượng từ tên sách, từ lối văn của cuốnNhà văn tư tưởng và phong cách hay đơn giản chỉ vì cái chữ đăng rất võ đoán trong cái tên ông xui khiến, mà hồi chưa vào đại học, tôi cứ hình dung Nguyễn Đăng Mạnh là một người cao cao, trán hói. Sau cặp kính dày cộp là khuôn mặt đăm chiêu lúc nào cũng lơ đãng một cách nghiêm trang, trên tay là chiếc cặp nặng trĩu những tư liệu và công trình… Tóm lại, là một học giả sang trọng. Nhưng đến một hôm khi đã học năm thứ hai, thì một anh chàng lớp trên chỉ cho tôi : Kia kìa ! thầy Mạnh đang đến kia kìa ! Thú thực, tôi hơi… thất vọng ! Chả sang gì cả ! Còn “nhếch nhác” nữa là đằng khác! Không hề cao, lại đội chiếc mũ lá cọ đã thâm màu, dắt chiếc xe đạp cũ, màu cua luộc, ghi đông lủng lẳng chiếc túi xách màu da bò bạch phếch – tôi hãy còn nhớ túi có trang trí hình một chiếc thuyền buồm. Hẳn là túi đi chợ của bà xã rồi!... Chà! Kia mà là người đã làm sáng giá lên sự sang trọng và tài hoa của Nguyễn Tuân ư? Kia mà là người đã khám phá ra niềm khát khao giao cảm với đời của Xuân Diệu, thi sĩ lãng mạn vào bậc nhất của nước Nam này ư?... Chả giấu gì, lúc ấy tôi đã theo chân vào lớp với một hoài nghi ngấm ngầm. Vừa đi, vừa cố tìm mối liên hệ giữa cái ông tác giả Nhà văn tư tưởng và phong cách mà tôi vẫn hình dung là đầy kiêu sang, với ông thầy như một giáo khổ tường tư đời mới kia ! Mãi mà không ra. Ngồi ở cuối lớp, máu vẽ vời trong tôi nổi lên. Tôi hí hoáy rất nhanh một chân dung hí hoạ: từ khuôn mặt, cái cằm, sống mũi, gò má đến đôi mắt, nhất là những tia nhìn… cái gì cũng nhòn nhọn, săng sắc! Và lấy làm khoái chí rằng đã tóm được thần thái rồi. Lúc ngẩng lên chợt gặp lúc ông cười. Tôi mới ngớ người ra. Phải, cái cười đã “cứu” tất cả. Nó bừng sáng, làm tan đi cái vẻ đăm đăm khắc bạc, những nét săng sắc nhòn nhọn phút chốc chìm đi, toả ra xung quanh một làn hơi ấm và sáng. Cái thần của ông là đây kia, bây giờ mới ló rạng. Thực tình, không có cái cười đó tôi không thể nào tin được ông lại có thể là một người cởi mở, ấm áp, thoải mái, trẻ trung như tụi lớp trên vẫn kháo nhau. Thế là, tôi vội bí mật thủ tiêu cái “kiệt tác” còn chưa ráo mực của mình. Tay kia rút một tờ giấy khác, phác nhanh những nét mới, để “sửa sai”.
Tuy nhiên, phải đến khi ông giảng, thì sự hoài nghi của tôi mới được giải toả hết. Còn nhớ hôm ấy là chuyên đềMấy vấn đề phương pháp tìm hiểu và phân tích thơ Hồ Chủ Tịch. Không ngờ ông có thể trình bày vấn đề khúc chiết minh bạch đến vậy. Không màu mè, không hoa lá, không bay bổng, không ngọt ngào. Mà sắc sảo, táo bạo đầy bản lĩnh. Ấy là kiểu hấp dẫn bằng chính tư tưởng, tư duy, chứ không phải bằng mĩ cảm phóng túng hay kĩ năng sự phạm điêu luyện. Những bài lẻ của ông về thơ Bác, tôi đọc rồi. Chúng đã được công bố rải rác trên Văn nghệ, Tác phẩm mới, Tạp chí văn học… Nhưng ở đây là cả một hệ thống vừa sáng sủa, vừa phong phú. Tôi đã đọc cả mấy chuyên luận về thơ Bác của các vị khác, toàn những cuốn cũng công phu lắm, nhưng cho đến bây giờ, vẫn chưa thấy ai nói về thơ Bác như vậy. Đó là cả một thế giới nghệ thuật. Chỉ cần một thái độ khoa học, những thao tác khoa học thôi cũng thấy được giá trị thực cao quý của nó, chả cần phải tô vẽ tán dương dễ dãi làm gì. Đám sinh viên cùng khoá ghé vào nghe ké khá đông. Đứa nào cũng mê tít việc phân loại thơ Bác thành hai mảng thơ nghệ thuật và thơ tuyên truyền một cách thật khoa học. Sau nữa là sự lí giải bất ngờ về chất thép độc đáo của Hồ Chí Minh,v.v… Điều gì cũng rốt ráo, sơn cùng thuỷ tận. Mà khẩu khí thì tự tin và lắm lúc đến là cực đoan. Tôi nhớ hình như đã thầm reo lên rằng: Đây rồi! Chính cái khẩu khí của Nhà văn tư tưởng và phong cách đây rồi! Thế mới đúng chứ! Và cũng trong lúc ấy, tôi chợt nhớ lại bìa của cuốn sách đó là thứ giấy vàng vàng ô ố, những mảng màu trang trí thì xin xỉn, chẳng tươi tắn, bắt mắt gì cả. Nhưng bên trong lại là thứ văn sắc và sáng, nặng trĩu những ý tưởng, mà lại thoát hẳn phong cách hàn lâm. Bìa sách thế với ruột sách thế có lẽ chỉ là ngẫu nhiên mà cứ như có một sự xui khiên vô hình nào vậy! Tôi chắc không phải ai cũng chịu lối văn này. Nhưng ai đã thích thì dễ bị mê hoặc.
Bây giờ thì đời sống ông sang trọng nhiều rôi. Con cái ông cũng khá cả mà. Nhưng chẳng hiểu sao, với tôi cụ Mạnh – sa lông phô tơi, com lê cà vạt vẫn không thi vị bằng cụ Mạnh – mũ – lá. Và tôi dám chắc rằng nếu như in vào kí ức thời sinh viên của tôi không phải là cái mũ cọ trung du lôi thôi xoàng xĩnh, thì hẳn là hình ảnh ông trong tôi sẽ mất đi một cái gì rất quan trọng. Hình như, cứ phải thế mới ra cụ Mạnh! Hay tôi là kẻ oái oăm?
*
Một lần lục giá sách của ông, tôi gặp cuốn Maiacôpxki của Hoàng Ngọc Hiến với lời đề “Tặng Julien Mạnh”. Tôi lấy làm lạ: tên thánh tên thiếc gì chăng? Mà có tên thánh nào thế đâu nhỉ? Mãi mới vỡ lẽ: Julien là tên nhân vật chính trong Đỏ và Đen của Stangđan mà ông rất mê. Một nhân vật quyết liệt ghê gớm. Xuất thân từ tỉnh lẻ, tầng lớp thấp, nhưng bằng tài và chí, đã vượt khỏi vị thế của mình, bước thẳng vào thế giới của bọn quí tộc, thách thức cả những người cao sang nhất. Hoàng Ngọc Hiến bảo ông có trực giác khoa học. HồDzếnh bảo ông là người có khả năng nhận ra cái thần của mỗi nhà văn. Còn ông, ông chỉ nhận mình làm được điều gì cũng nhờ rất nhiều vào cái chất Julien đó. Tôi không nghĩ hồi trẻ ông học lớp hội hoạ kháng chiến của Tô Ngọc Vân là do cái chất kia xui khiến. Ông đã bỏ dở. Và may là như thế! Xuýt nữa ta đã có một hoạ sĩ xoàng mà mất đi một nhà nghiên cứu phê bình giỏi (tôi có xem mấy kí hoạ trong sổ tay hồi ông sang Campuchia. Nét vẽ xem ra cũng … tầm tầm thôi!). Hồi theo kháng chiến, do một sự tình cờ, ông đã đọc gần hết cả một gian sách tiếng Pháp chất trong cái lán nhỏ, do một thư viện nào đó chuyển lên cho cán bộ Sở giáo dục Việt Bắc, đặt ở hang Dơi, nằm ở phía bắc Thái Nguyên. Nhưng cũng thế thôi! Ông mê đọc chỉ vì…mê đọc, chưa phải để chuẩn bị vốn liếng cho một phê bình gia sau này. Phải đến sau nữa, đi học đại học, rồi vào dạy Đại học sư phạm Vinh, chàng Julien mới thôi thúc và thao thức nhiều trong ông. Không thế, giữa những ngày bom đạn đánh phá, hẳn ông không thể nhảy tàu ra Hà Nội để đọc sách. Cũng không thể cặm cụi nghiên cứu Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, giữa nơi sơ tán tăm tối, hẻo lánh trong rừng núi Thanh Hoá và bắt tay vào viết những công trình nghiên cứu phê bình đầu tiên ở đó!
Để lớn lên trong nghề này, ông đã gặp và chơi nhiều với cánh nhà văn, đặng hiểu sâu vào công việc sáng tác. Nhiều nhà văn đã thành chỗ thân tình của ông. ông cũng chịu tìm học các học giả để hỏi han, trao đổi, nhất là về những khái niệm chưa tường tận. Vậy mà nhiều lúc thật cay đắng. Thuở “hàn vi”, có lần chàng Julien mũ lá lặn lội đến gõ cửa nhà một giáo sư được đào tạo ở Tây hẳn hoi, để hỏi về chủ nghĩ tự nhiên. Thấy một người trẻ tuổi, vô danh, lại đội mũ lá, dắt xe đạp cà tàng, vị giáo sư sang trọng kia đã dành hẳn một “đặc ân”: tiếp ngay ở cửa, nói nhát gừng vài lời, rồi vội bắt tay để xua khéo về một cách … lịch sự. Ông lặng người, rồi ra về. Không còn nhớ trong lòng là nỗi cay đời hay buồn đời, là bi hay là phẫn nữa. Chàng Julien trong ông đã vụt dậy và cất lên một lời thề quyết liệt. Phải, chỉ có nó là sức mạnh duy nhất giúp ông sắt đá, giúp ông vượt lên sự khinh khi của những kẻ hợm hĩnh, hãnh tiến. Tôi ngờ rằng chữ “ nhếch nhác” và “sang trọng” sau này thành lời cửa miệng của ông có lẽ đã bật lên vào lúc ấy, khi cái tương quan lộn ngược của nó hiện ra nhỡn tiễn. Và, mỗi lần như thế, người ta càng thấy ông nung nấu, càng lao vào đọc, nghĩ, viết ráo riết hơn. Sau này tôi mới hay, ông từng bị lao phổi, bị chảy máu dạ dày hai lần đều là hậu quả của chuỗi ngày ráo riết triền miên như thế ấy. Hèn chi mà sau này, ngay khi đã thành một giáo sư đầu ngành rồi, ông vẫn luôn mở rộng cửa cho sinh viên ưa thắc mắc hỏi han đến “quấy”. Và sẵn lòng tin những người chân chính đang âm thầm lớn lên trong vô danh.
*
Nguyễn Đăng Mạnh là người ưa chuyện, giòn chuyện. Gặp người hợp, nhất là bọn trẻ (ông vốn thích chơi với cánh trẻ), ông có thể say sưa thâu đêm suốt sáng. Càng nói càng hăng, càng sắc. Nếu đã trò chuyện với ông rồi, ra về bạn ngẫm lại mà xem: ông chỉ có một chuyện thôi ! Toàn bộ những chuyện trên giời, dưới biển, đời xưa đời nay, bên Ta bên Tây, chuyện sư tử hay cầy cáo, đàn ông hay đàn bà, hồi ức hay thời sự, nghệ thuật hay tuyên truyền… cuối cùng rút lại chỉ độc một chuyện: tư tưởng nghệ thuật. Lúc giọng ông bốc nhất, lên men say nhất cũng là khi trực tiếp đụng đến cái chuyện ấy. Đơn điệu chăng? Cực đoan chăng? Hay là lẩn thẩn? Có lẽ chỉ đơn giản là ông quá si mê điều ông tâm niệm, thế thôi. Người ta bảo đó là “bệnh” của những người bị chính tư tưởng của mình ám ảnh, nó như cái bóng vô hình, không chịu lìa bỏ cũng không chịu buông tha. Có khi thế thật?
Tôi nhớ lần cùng ông vào Thanh Hoá để bồi dưỡng giáo viên và học sinh chuyên văn. Trên tàu ông nói chuyện suốt bốn tiếng đồng hồ. Nghĩa là lúc nào cũng phải rướn giọng, phải đua với tiếng tàu xiết trên đường ray, tiếng cửa toa va đập sầm sập, xình xình. Thỉnh thoảng ông dừng lại châm thuốc, làm tôi cứ đinh ninh là ông sắp ngừng và sẽ phải gà gật như mấy cụ già bên cạnh. Tôi nhầm. Đó chẳng qua chỉ là quãng lặng để chuẩn bị một cao trào mới.
- Trong những thế kỉ trước, có người đã định nghĩa con người là cây sậy có tư tưởng. Cũng là thứ cỏ mọn hoa hèn thôi. Nhưng cần nhớ đó là cây sậy có tư tưởng! Thế thì cái tư thế người, cái tư cách làm người là do cái tư tưởng kia quyết định chứ gì? – Chừng như sợ người nghe mình gà gật, ông mới đổi tư thế ngồi và nhìn xoáy vào tôi – Làm học thuật hay làm nghệ thuật cũng thế cả ! Không có tư tưởng riêng thì vứt! Thì chìm ngỉm, mất tăm mất dạng. Anh lớn hay bé đều do cái tư tưởng kia mà nên. Sự sang trọng của một người viết phải được đảm bảo, được thế chấp bằng tầm vóc tư tưởng của bản thân anh ta. Mà tư tưởng nhà văn là tư tưởng nghệ thuật! Nên nhớ là như vậy. Tiếng Pháp nó gọi là I – đê pô - ê - tíc – cơ (Idée potéticque). Nghiên cứu nhà văn mà không tìm cái ấy thì tìm cái gì cũng chỉ vụn vặt mà thôi…
Đấy, hễ đụng đến chuyện ấy là cứ như đụng đến tín niệm riêng của ông vậy. Tàu ồn thế chứ ồn nữa, cũng có làm sao! Hèn chi mà bao năm nay, ông đã viết dễ có đến mấy chục đầu sách. Nhưng theo tôi, ông chỉ viết có một quyển! Nó là kết tinh toàn bộ quan niệm, tư tưởng của ông. Ấy là Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn. Mà phần chủ chốt của nó là đường đi vào tư tưởng nghệ thuật. Tất cả những cuốn khác chỉ là dọn đường, phác thảo, là phân thân, hoá thân, là mảnh vỡ của cùng một cuốn duy nhất này thôi. Chàng Julien mũ lá cứ âm thầm mải miết bước trên con đường ấy, vừa đi, vừa mở, vừa phát quang, để cuối cùng đã hái về những niềm khát khao giao cảm với đời của Xuân Diệu, niềm căm uất không nguôi của Vũ Trọng Phụng, nỗi đau dai dẳng vì tình trạng con người bị sỉ nhục của Nam Cao, chủ nghĩa nhân đạo thống thiết của Nguyên Hồng… Tất cả đều là những nhiệt hứng sôi nổi, là tư tưởng nghệ thuật sáng giá của các nhà văn đó. Tôi biết, có người còn muốn nắn chỗ này, đắp chỗ kia, nhưng không thể không thấy đó quả là một con đường! Tính thuyết phục của con đường ấy không phải ở nhiệt huyết đam mê cặm cụi suốt cả đời của người khai mở. Mà là ở kết quả nó mang lại. Chính những thành công của ông là vật thế chấp cho con đường đi đó.
*
Người ta bảo ông yêu ghét chúa là cực đoan. Tôi cũng thấy thế. Cả sống và viết ông đều thế. Một người đã quyết liệt thì có cực đoan cũng là điều dễ hiểu. Dĩ nhiên, ông ghét nhất sự dung tục, nhếch nhác. Vớ được một nhân vật nhếch nhác nào thì, lạy chúa, thôi rồi!... Còn yêu? Cũng cố   nhiên là sự sang trọng. Ấy là sự sang trọng của tài hoa và nhân cách. Ông mê nhất Nguyễn Tuân là vì thế.
Nhớ một bận cách đây ít năm, khi đang bắt tay viết cuốn Ba đỉnh cao Thơ mới – Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, tôi có ghé ông chơi, nhân tiện hỏi thực hư về một chuyện mới nghe được, chuyện khá li kì. Đúng lúc ông vừa viết xong một bài về Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân. Nhiệt hứng còn đương ngùn ngụt.
- Ông thấy không ? Huấn Cao nói thiếu chút nữa ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ, nghe nó sang trọng bao nhiêu ! Không cúi đầu trước đồng tiền và quyền lực. Mà cúi đầu trước một tấm lòng ! Trong khi đó tay Quản Ngục lại khúm núm trước Huấn Cao. Khúm núm thế đâu có nhếch nhác. Bởi đó là cái cúi đầu trước hoa mai cả thôi ! Thật là cái khúm núm đầy tư tưởng, cái khúm núm sang trọng. Tư tưởng của Nguyễn Tuân là đấy chứ đâu !
Sau cái câu đầy gay gắt đánh đá như vẫn đang còn tranh luận trong bài viết ấy, ông dừng lại châm thuốc hút.Tưởng ông đã dứt mạch, tôi định chen vào hỏi ngay. Nào ngờ… cao trào chưa hoàn toàn lắng xuống.
- Mà tư tưởng là tư tưởng riêng của mình. Chứ còn như ai kia tự nhận là hạt bụi mang tư tưởng mà lại là tư tưởng của người khác, thì… tưởng là sang trọng té ra lại nhếch nhác !...
Tôi định nói rằng, đời nó thế. Sang đó lại hèn ngay đó. Có cái ngỡ hèn mà hoá sang. Có cái tưởng sang trọng mười mươi, lại tầm thường, nhếch nhác. Có sự phế truất mà sang. Có sự lên ngôi mà nhếch nhác. Có cái nhếch nhác đắc thắng. Lại có cái thất thể vẫn cao sang… Phải tự tín lắm mới luôn tin rằng cái Sang là một giá trị giữa đời này. Và cũng phải lãng mạn lắm thì mới hằng tin rằng sự sang trọng chân chính nhất ở một con người chính là sự sang trọng của tư tưởng. Những thứ ấy đời dễ cho là viển vông, mơ hồ, thậm chí, còn nguy hiểm nữa. Người ra còn mải bận tâm, bon chen vì những gì gì kia, những phú quí, vinh hoa, tước hiệu, những ghế gẩm này khác chẳng hạn…Nhưng tôi kịp nhận ra rằng, điều chính mình đang nghĩ cũng đâu có mới lạ gì. Nó cũ như bản thân cuộc đời này rồi. Vả lại, cái chuyện tôi định hỏi vẫn nóng hơn. Tôi ghé ông lần này là vì chuyện ấy kia mà. Thế là tôi gạ, đại khái: nghe người ra úp mở rằng ông được Xuân Diệu rất sủng ái. Sau khi đọc xong bài Niềm khát khao giao cảm với đời đã khóc mà nói “Mạnh là người hiểu mình sâu sắc nhất”, đã mời ông đến nhà và tặng một chiếc đồng hồ, có phải không? Xuân Diệu đề nghị ông hãy nhận theo cung cách Tản Đà ngày xưa nhận 1000 đồng Đông Dương của Diệp Văn Kỳ, nghĩa là, nhận mà không cần cám ơn, lại còn nói nhún “Mình thì không đáng là Diệp Văn Kỳ, còn Mạnh đáng là Tản Đà”. Chuyện là thế nào? Thì ông xua tay lảng đi:
- Cái câu “hiểu mình sâu sắc nhất”, thì Xuân Diệu không trực tiếp nói với mình, mình cũng chỉ được nghe anh Văn Hồng thuật lại thôi. Còn chuyện tặng đồng hồ thì có. Nhưng bây giờ Xuân Diệu chết rồi. Nói ra có khi người ta bảo mình bịa. Thấy người sang bắt quàng làm họ. Mà ăn theo người sang lại chẳng là nhếch nhác à ? Chả dại!...

2. Một vài điểm nhấn

 Người ta vẫn nói đến Nguyễn Đăng Mạnh như một trong những chuyên gia hàng đầu về văn học Việt Nam hiện đại. Tôi nghĩ, đó không phải là một sự tấn phong dễ dãi. Chuyên gia không chỉ là chuyện chuyên tâm, hay thông thạo một lĩnh vực nào đó. Mà quan trọng hơn là vừa phải bao quát vừa phải chuyên sâu về lĩnh vực ấy. Cụ thể là phải am tường những vấn đề thiết cốt nhất của nó, cùng những con đường hữu hiệu để tiếp cận và khám phá nó. Nhờ đó mới có uy thế để tập hợp được những đồng nghiệp, những cộng sự và người kế tục.
Ai cũng biết, mảng ông chuyên tâm là văn học Việt Nam hiện đại. Trước khi bao quát vĩ mô, phải bắt đầu từ vi mô. Hoàng Ngọc Hiến có lí, phải bắt đầu nghiên cứu đến nơi đến chốn từng chút một, thì một ngày kia mới có được một cái gì có nghĩa lí. Nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại, không thể không giải quyết những chuyện như Hiện đại là gì ? Hiện đại hoá là thế nào ? Rồi các khuynh hướng lớn bấy giờ : thế nào là Lãng mạn ? thế nào là Hiện thực ? Về bản chất, chúng là các phương pháp nảy sinh và gắn chặt với các ý thức hệ, hay trước hết là các khuynh hướng cảm xúc thẩm mĩ của mỗi cá thể ? Quá trình vận động của văn học thời kỳ này bị chi phối bởi những qui luật gì ? Hệ thống thể loại của nó ra sao ?... Những chuyện to tát ấy không thể giải quyết, thậmc hí không thể hình dung khi mới chân ướt chân ráo vào cuộc. Nó là việc của mãi về sau này, sẽ dần dần giải quyết cho mình. Còn khởi đầu hẵng là một chút nào đấy đã. Thế là ông cặm cụi với tác giả. Mà các tác giả cần biên soạn cho giáo trình phải được ưu tiên trước. Xem ra những tác giả có duyên với ông đều là những hiện tượng phức tạp cả (ông nói vui rằng mình thích “húc” đầu vào những vị phức tạp). Để hình dung về họ, không thể không đi từ tác phẩm của họ. Thế là cặm cụi vào tác phẩm. Xuất phát từ thực tiễn như thế không chỉ là con đường của một nhà văn học sử, có lẽ, là con đường của nghiên cứu văn học nói chung. Còn lấy xuất phát từ lý thuyết, dùng lý thuyết áp vào thực tế rất dễ chông chênh. Trước khi có những bài bề thế có tính tổng quan, tổng quát cả một thời đại trong văn xuôi như Khải luận cho bộ Tổng tập (tập 30A), các bài Khái quát cho các bộ giáo trình đại học cao đẳng, giáo khoa phổ thông, ông đã mất dễ đến một phần ba đời người, lần từng chút một trong tác phẩm của từng tác giả thời ấy. Nghiên cứu Ngô Tất Tố, ông khảo kĩ toàn bộ phóng sự, cày xới các tiểu thuyết, một nhân vật quan trọng như Chị Dậu trong Tắt đèn đã được soi xét kĩ lưỡng. Nghiên cứu Nam Cao, ông bắt đầu bằng việc phân tích cho ra nhẽ hàng loạt tác phẩm Chí Phèo, Sống mòn, Một đám cưới, Đôi mắt.v.v… đặt mỗi tác phẩm vào “hoàn cảnh lớn”, “hoàn cảnh nhỏ”, tìm sự thống nhất và mối liên hệ giữa các tác phẩm, thậm chí giữa các tình tiết rải rác đó đây trong nhiều tác phẩm, tìm sự phát triển của các yếu tố qua các chặng đường sáng tác của từng tác giả. Rồi mới dựng lên một “bộ ba vấn đề”: Quan điểm sáng tác – Quá trình sáng tác – Phong cách nghệ thuật, để thâu tóm toàn vẹn sự nghiệp của mỗi vị. Bài giới thiệu về Nguyễn Tuân (vốn viết cho Nguyễn Tuân tuyển tập) có thể xem là một mẫu mực cho lối làm việc ấy1. Trước khi đề xuất cách hiểu của mình về Lãng mạn, Hiện thực, về Hiện đại và Hiện đại hoá trong Văn học Việt Nam hồi đầu thế kỉ, ông đã tỉ mẩn từng chút một về từng tác giả Lãng mạn, Hiện thực… ông khảo những nét phân biệt cùng những giao nối mong manh giữa các đối tượng ấy. Từ đó có căn cứ mà khái quát thành những điều to tát, góp phần giúp người đọc hiểu trúng hơn vào bản chất các vấn đề tưởng đã yên chuyện… Theo tôi, cách ông trình bày về Lãng mạn và Hiện thực, từ cội nguồn là khuynh hướng cảm xúc chung đến diện mạo riêng của nó trong thực tế văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ trước gồm các bình diện: khuynh hướng tư duy, hệ thống đề tài, hệ thống thể loại tương ứng, v.v… là cách nhìn thuộc tầm cỡ một chuyên gia hàng đầu. Cùng nghiên cứu giai đoạn này, có không ít người, nhưng phân biệt được như vậy, thì không nhiều. Dõi theo con đường nhọc nhằn của ông, có thể chứng thực: làm chuyên gia thì không chỉ chuyên chú vào bề rộng mà còn chuyên tâm vào chiều sâu, không chỉ chuyên luận cái lớn mà cần chuyên khảo cả cái nhỏ. Phải biết bước tới cái lớn từ cái nhỏ.

Nhìn ở phía khác: một chuyên gia văn học sử không thể không hình dung về tiến trình vận động làm nên cái gọi là lịch sử văn học. Có người hình dung bằng sự vận động của đội ngũ sáng tác. Có người hình dung bằng sự nảy sinh và tiếp nối của các khuynh hướng, các trào lưu. Người khác lại hình dung bằng sự vận động của các thể loại. Người khác nữa lại hình dung như là lịch sử của ý thức tư tưởng… Không phải không lường tính và xem xét đến những phương diện khác, nhưng trọng điểm quan tâm của Nguyễn Đăng Mạnh, trước sau, vẫn là tư tưởng gắn với những tác gia lớn.
Có lẽ trong quá trình nghiên cứu theo hướng của mình, ông mới thấy một thực tế khá bất ngờ: té ra tư tưởng của nhà văn là một khái niệm ở ta chưa phải đã tường minh lắm. Do đó, có hiện tượng đáng buồn: tư tưởng chính trị, tư tưởng đạo đức, tư tưởng nghệ thuật… thường bị đánh đồng với nhau. Cũng đáng buồn không kém là hiện tượng tư tưởng nghệ thuật độc đáo của từng tác gia cứ được/bị lược qui vào một trong hai phạm trù tư tưởng “công cộng”: tư tưởng nhân đạo và tư tưởng yêu nước. Nhà khoa học chân chính thì không được phép làm ngơ trước điều đó. Làm một chuyên gia lại càng không thể làm ngơ. Công việc theo đuổi buộc ông phải bắt tay vào tường minh khái niệm tư tưởng nghệ thuật. Có thể nói đây là một đóng góp rất then chốt của Nguyễn Đăng Mạnh. Tham khảo các tài liệu lí luận trong và ngoài nước, ông thấy, người có ý thức nói đến khái niệm này rõ nhất là Bêlinxki. Tiếc rằng, nhà phê bình lớn thời Cách mạng dân chủ Nga ấy chưa xây dựng thành khái niệm hoàn bị. Song, những ý niệm ban đầu của Bêlinxki là tiền đề rất quan trọng. Cần phải đứng lên vai người khổng lồ này để hoàn thiện nó. Tuy nhiên, hình thành hẳn một khái niệm không phải là chuyện một sớm một chiều. Nghiền ngẫm trong nhiều năm, kiểm nghiệm qua thực tế nghiên cứu của mình, dần dần ông mới hình dung rõ nét về nó. Cho đến khi viết cuốn Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, ông mới chính thức lí thuyết hoá khái niệm này. “Khái niệm đó - ông viết rất sòng phẳng – thực ra là của Bêlinxki”. Và ông định nghĩa: “Tư tưởng nghệ thuật là một hình thái nhận thức đặc thù của người nghệ sĩ: nhận thức bằng “ toàn bộ con người tinh thần với tất cả nội dung phong phú và tính tổng thể toàn vẹn của nó”. Hình thái nhận thức này đòi hỏi người nghệ sĩ phải huy động toàn bộ mọi năng lực tinh thần của mình mà nội dung chính bao gồm lí trí và tình cảm cảm xúc kết hợp hài hoà với nhau giống như xương cốt và máu thịt, như thể xác với linh hồn con người. Hình thái nhận thức này thấm nhuần lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn. Vì thế có thể gọi là hình thái tư duy – tình cảm thẩm mĩ của người cầm bút” 2. Theo tôi, định nghĩa trên đây đã khái quát được những thuộc tính khá căn bản của đối tượng. Việc xác lập thành khái niệm như thế đã vạch ra một ranh giới nào đó giữa tư tưởng nghệ thuật với các hình thái tư tưởng khác. Đồng thời, mở được một lối chiếm lĩnh tư tưởng riêng của từng nghệ sĩ. Tuy nhiên, nó được trình bày có phần hơi “nghệ sĩ”, vì vậy cần phải tường minh hơn thì mới hoàn chỉnh.
Theo tôi, trước hết, cần có sự phân biệt rành rẽ hai nghĩa không trùng nhau của khái niệm tư tưởng. Thứ nhất, tư tưởng là một hoạt động tinh thần. Theo nghĩa này, nó đồng nghĩa với tư duy. Vì thế tư tưởng nghệ thuật là một “hình thái nhận thức”, nó đồng nghĩa với tư duy nghệ thuật. Thứ hai, tư tưởng là kết quả của hoạt động tư duy. Theo nghĩa này, tư tưởng nghệ thuật là sản phẩm của tư duy nghệ thuật. Do đời sống ngôn ngữ luôn vận động, càng gần đây, chữ “tư tưởng” được hiểu nghiêng hẳn theo nghĩa thứ hai. Vì vậy, để chỉ hoạt động, người ta dùng chữ “tư duy”, và để chỉ kết quảcủa tư duy ấy người ta dùng chữ “tư tưởng”. Định nghĩa trên đây phần nào nghiêng về nghĩa thứ nhất. Tức là Nguyễn Đăng Mạnh cố gắng định danh  khái niệm tư tưởng nghệ thuật như một hình thái tư duy đặc thù mà ông gọi là “tư duy – tình cảm thẩm mĩ”. Cái mà bây giờ ta vẫn gọi bằng tư duy nghệ thuật. Còn nghĩa thứ hai, tư tưởng là kết quả tư duy của người nghệ sĩ, nghĩa cần phải tường minh hơn, lại chưa thật xác định.

Thứ nữa, là về tính đặc thù của tư tưởng nghệ thuật trong đối sánh với các hình thái tư tưởng khác. Nói đến tư tưởng, thói thường người ta mặc nhiên coi nó là sản phẩm thuần của lí trí. Tư tưởng nào cũng vậy, tư tưởng nghệ thuật thì cũng chẳng khác gì. Cho đến tận gần đây, ngay cả người trong giới sáng tác nghệ thuật cũng còn không ít ngộ nhận về nó. Nhưng, hiểu thế thì không nhận ra nét đặc thù của loại tư tưởng đó. Thiết nghĩ, cần một chút so sánh với hình thái tư tưởng khác, như tư tưởng khoa học chẳng hạn, thì dễ thấy nét riêng của mỗi đằng hơn. Phải tô đậm lại điều đơn giản này : tư tưởng nghệ thuật là tư tưởng được thể hiện trong nghệ thuật và thể hiện bằng nghệ thuật. Không phải ngẫu nhiên mà Bêlinxki đã nhấn mạnh nó bằng cụm từ “Idée poétique”, nghĩa đen là “tư tưởng thơ”, tư tưởng mang tính thơ - tức là loại tư tưởng có thuộc tính thẩm mĩ. Tư tưởng nghệ thuật là sản phẩm của tư duy nghệ thuật, nó vừa giống vừa khác với tư duy khoa học. Tư duy khoa học chủ yếu dựa vào cái đầu lạnh, nghĩa là dựa vào một lí trí có phần đơn thuần. Thao tác căn bản của nó là trừu tượng hoá. Kết quả cuối cùng của nó là những khái niệm trừu tượng. Còn tư duy nghệ thuật là một trạng thái tinh thần đặc thù, trong đó cả lí trí và tình cảm đều vận hành mà vận hành cùng một nhịp với nhau và chuyển hoá sang nhau. Thao tác căn bản của nó là hình tượng hóa. Kết quả cuối cùng của nó là những hình tượng nghệ thuật sống động súc tích. Cho nên tư tưởng nghệ thuật không bao giờ tồn tại bên ngoài hình tượng. Theo tôi, bằng cái nhìn đối sánh, có thể thấy tư tưởng khoa học là một đơn thể thuần lí, còn tư tưởng nghệ thuật là một hợp thể gồm cả lí và tình. Nói cách khác, tư tưởng nghệ thuật có sự hoà hợp giữa hai bình diện cảm tính và lí tính. Ở bình diện lí tính, tư tưởng nghệ thuật là một quan niệm. Ở bình diện cảm tính, nó là một tâm trạng (Bêlinxki gọi là trạng thái nhiệt hứng), hay sát hợp hơn có thể gọi nó là một điệu cảm xúc. Do tính chất hoà hợp đặc thù này, mà có thể hình dung tư tưởng nghệ thuật như quan niệm đã hoá thân thành tâm trạng, hay một tâm trạng đã thấm nhuần quan niệm. Nếu chỉ thấy/xem tư tưởng nghệ thuật như một quan niệm đơn thuần, một mệnh đề trừu tượng (nghĩa là bình diện thuần lí tính), thì đó chỉ còn là dạng hoá thạch của tư tưởng, chứ chưa phải dạng sống động của tư tưởng vậy. Hình dung như thế, khái niệm tư tưởng nghệ thuật dễ xác định hơn chăng ? Với người nghiên cứu, nhận ra nét đặc thù này của tư tưởng nghệ thuật là điều không dễ. Nhưng không nhận ra tất sẽ nhầm lẫn với những hình thái tư tưởng khác. Từ đó, có thể rút ra vấn đề phương pháp tiếp cận tư tưởng là: cần phải thấy được tính hợp thể của nó, nghĩa là phải thấy được cả phía lí tính (quan niệm) cả phía cảm tính (điệu cảm xúc) hòa hợp trong một nhất thể.
Có lẽ cần nói thêm về mối liên hệ thuộc bản thể của khái niệm /đối tượng này. Ta khẳng định ở bình diện lí tính, tư tưởng nghệ thuật là một quan niệm, vậy nó là quan niệm gì ? Nó là sự hoà hợp của hai thứ quan niệm ở người nghệ sĩ : quan niệm thẩm mỹ và quan niệm nhân sinh. Quan niệm thẩm mĩ trả lời câu hỏi thế nào là đẹp ?còn quan niệm nhân sinh trả lời câu hỏi thế nào là hạnh phúc ? Gộp lại có thể chỉ là một câu thôi : Thế nào là giá trị ? Quan niệm ấy sẽ chi phối toàn bộ việc cảm nhận và thể hiện thế giới bằng nghệ thuật ở từng nghệ sĩ. Tìm kiếm tư tưởng của một nghệ sĩ, về thực chất, là tìm quan niệm đó. Chừng nào chưa thấy quan niệm đó, chừng ấy tư tưởng thật sự của nghệ sĩ vẫn còn là ẩn số. Ở bình diện cảm tính, tư tưởng là một điệu cảm xúc. Nó là gì vậy ? Nó là hệ thống cảm xúc  đã hoá thân vào văn bản nghệ thuật. Nghĩa là thái độ cảm xúc đã được hình thức hoá. Vậy điệu cảm xúc biểu hiện ở đâu ? Biểu hiện đậm đặc nhất trong giọng điệu nghệ thuật của mỗi tác phẩm/tác giả. Vì lẽ đó, phải tìm được giọng điệu nghệ thuật của tác phẩm/tác giả thì mới nắm được thực sự tư tưởng nghệ thuật trong đó.
Vài chục năm nay, Thi pháp học được giới thiệu và ứng dụng vào Việt Nam. Đó là hướng nghiên cứu nhiều triển vọng. Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng các hướng nghiên cứu chân chính không bao giờ đối lập loại trừ nhau. Thi pháp học hầu như không nói đến khái niệm “tư tưởng nghệ thuật”. Mà nói nhiều đến khái niệm “quan niệm nghệ thuật”. Tinh thần bao trùm của Thi pháp học hiện đại là tìm kiếm những “hình thức mang tính quan niệm”. Nhà thi pháp học truy tìm những quan niệm ẩn náu trong/sau mỗi hình thức cụ thể cảm tính. Điều này hoàn toàn khác chăng ? Không hẳn. Như đã phân tích ở trên, thực chất của tư tưởng là các quan niệm, nên hai khái niệm này không đối lập, loại trừ nhau, mà trái lại đã gặp gỡ nhau trong chiều sâu của nó. Như thế, người tìm kiếm tư tưởng nghệ thuật của nghệ sĩ và người tìm kiếm quan niệm nghệ thuật của nghệ sĩ sẽ gặp gỡ nhau ở cuối con đường, dù đường đi nước bước có vẻ không hoàn toàn giống nhau.

Cần khẳng định rằng, phần ý thức lý thuyết có thể chưa rành mạch hẳn ra thế, nhưng phần ứng dụng cụ thể trong các công trình của Nguyễn Đăng Mạnh thì căn bản đều theo tinh thần như thế.

Dấn thân vào chuyện này là một mạo hiểm. Không chỉ vì đây là một vấn đề khoa học chông gai, mà còn vì đây là vấn đề nhạy cảm. Khi mà người sáng tác hãy còn yên chí với sự bao cấp về tư tưởng, còn tự mãn trong sứ mệnh minh hoạ, việc xới lên vấn đề tư tưởng riêng quả là không tiện chút nào. Nhưng khoa học chân chính thì không được né tránh. Né tránh thì yên thân, nhưng quyết là không thể tới được chân lý. Từ khi tường minh điều này, ông đã xem đó như một tín niệm. Dựa vào khái niệm tư tưởng của mình, ông đã khảo sát các đối tượng. Nhờ vận dụng khá nhuần nhuyễn mà ông đã thành công trong việc nghiên cứu và nắm bắt tư tưởng của nhiều nhà văn thuộc giai đoạn này: Nguyễn Tuân, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Xuân Diệu, Tô Hoài, … và sau nữa: Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Nguyễn Huy Thiệp, Dương Thu Hương…
Theo tôi, trong lĩnh vực học thuật, viết được một bài hay là khó, nhưng còn dễ; viết được một cuốn sách hay, cũng khó, song cũng còn dễ; để lại một tư tưởng, một phương pháp, hơn nữa, một lý thuyết, khó hơn nhiều. Ở ta, người làm văn học sử, đào sâu vào thực tiễn không phải là ít. Nhưng phần lớn là chỉ tích lũy được những kinh nghiệm. Từ kho kinh nghiệm quí báu của một đời nghiên cứu ấy, khái quát thành phương pháp luận có ý nghĩa lí thuyết, thì hiếm hoi. Số người có thể làm được điều này rất ít. Có thể còn trội về kinh nghiệm hơn là lí luận, và cũng chưa thể nói là thành một lí thuyết hoàn chỉnh, nhưng cuốn Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn thuộc vào sự hiếm hoi này.

*
Việc Nguyễn Đăng Mạnh trở thành cây bút phê bình văn học xem như đã là một tất yếu. Ông đã nhiều lần tâm sự rất đơn giản về cái lẽ tất yếu này, rằng là phải giảng dạy nên phải nghiên cứu, do nghiên cứu văn học mà dấn lên viết phê bình văn học. Từ bục giảng đến trường văn trận bút có vẻ như một hệ quả liên hoàn. Tuy nhiên, ông có một quan niệm riêng về phê bình. Trước hết, ông đề cao lối phê bình – nghiên cứu. Có thể chỉ viết về một tác phẩm nhưng nhất thiết phải nghiên cứu toàn bộ tác giả. Có như thế mới nói trúng, mới bắt được mạch và mới lý giải được thành công hay thất bại của từng sáng tác đơn lẻ. Lối điểm sách, đọc sách thời vụ cập nhật, không gắn với nghiên cứu tác giả, ông cho là không có triển vọng gì. Quan niệm này đúng là của một người nghiên cứu bước vào sân phê bình, tiêu biểu cho lối phê bình đại học, và cũng tiêu biểu cho quan niệm hiện đại về phê bình. Con đường Nguyễn Tuân đến bút kí chống Mỹ được kể là sản phẩm trình làng của ông theo quan niệm đó. Ông viết về một tập kí của Nguyễn, nhưng đã khảo toàn bộ tư tưởng và phong cách tác giả, dựng lại cả con đường đi của nhà văn, từ đó mới chỉ ra và cắt nghĩa được từng thành bại trong văn phẩm này của Nguyễn. Khi in lần đầu trên Tạp chí Văn học, hồi Hoài Thành còn là thư kí toà soạn, nhà phê bình đàn anh này đã nói rằng: phê bình hiện đại phải viết như thế. Cả đời cầm bút, ông thuỷ chung với lối phê bình này. Bài phê bình nào của ông, dù ngắn đến đâu cũng là sản phẩm đầy công phu, đầy dấu vết lao tâm nhọc trí. Rồi, ông còn phân loại  phê bình làm hai lối: một là, tìm đến văn chỉ để nói chuyện văn; hai là, tìm đến văn chỉ là cái cớ ban đầu để quay hẳn sang nói chuyện đời. Lối trước, thông thường; lối sau, mới cao giá. Tất nhiên, còn cầm bút, ông còn gắng phấn đấu theo lối sau. Có thể nói đó là phía nghệ sĩ trong quan niệm về phê bình của ông. Đọc những trang phê bình của ông thấy chuyện văn cũng sâu mà chuyện đời cũng sắc, cả hai dìu dựa nhau trong mỗi ý văn. Một ví dụ bất kì: “Lâu nay - ông bình giảng truyệnChữ người tử tù của Nguyễn Tuân, nói về những nhân cách cao thượng, người ta thường nhấn mạnh đến tinh thần gang thép, đến cái “vô uý”, cái không biết sợ trước những lực lượng thù địch (…) Ba nhân vật Huấn Cao, con người “chọc trời khuấy nước”, đến “chết chém ông còn chẳng sợ”, ta không cần nói cũng rõ. Nhưng người quản ngục và viên thơ lại cũng gan góc ngang tàng lắm chứ! Đó là những con người dám thách thức với những đòn trừng phạt ghê gớm có thể giáng xuống đầu, nếu “âm mưu” của họ – bí mật biệt đãi “tên phiến loạn nguy hiểm” – bị cáo giác. Nhưng thử nghĩ mà xem, con người không biết sợ cái gì trong đời này cả, liệu có phải là con người không? Cái gì cũng “vô uý” cũng tỏ thái độ sắt thép, nghĩa là không biết mềm lòng trước bất cứ một cái gì, đấy là loại quỷ sứ chứ đâu phải là người! Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân dạy cho người ta hiểu rằng, muốn nên người phải biết kính sợ ba điều này: cái tài, cái đẹp và cái thiên tính tốt của con người (thiên lương). Vậy, kẻ nào không biết sợ gì hết, đó là loài quỷ sứ. Loại người này, thực ra rất hiếm hoi, hay nói đúng hơn, không thể có được. Nhưng loại người sau đây thì chắc không ít: sợ rất nhiều thứ, nhất là quyền thế và đồng tiền, nhưng đối với cái tài, cái đẹp và cái thiên lương thì lại không biết sợ, thậm chí sẵn sàng lăng mạ giày xéo. Đấy là hạng người hèn hạ nhất thô bỉ nhất, đồi bại nhất” 3. Trong những dòng như thế, không còn phân biệt được đâu là chuyện văn, đâu là chuyện đời nữa. Quan niệm phê bình quay sang nói chuyện đời ở đây không phải theo lối đứng trên bề mặt trang văn kiễng chân lên để nói vọng vào đời, mà là những trải nghiệm đời đã gặp được văn, mượn chuyện văn chương để cùng bàn chuyện nhân sinh. Thực chất, phê bình là một hoạt động tư tưởng mà. Nó không thể ăn theo sáng tác. Phê bình chỉ tìm ở sáng tác nguồn cảm hứng, sự cộng hưởng mà thôi. Cũng cần nói rằng, quan niệm đúng chưa chắc đã sinh ra những sáng tạo hay. Để gặt hái được thành công khiến giới văn học xem ông là một trong những nhà phê bình hàng đầu Việt Nam nửa cuối thế kỉ XX, thì chủ yếu phải nhờ vào một nội lực đủ mạnh để thuỷ chung với quan niệm.
Gần đây, các công trình phê bình của ông được chọn vào cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại, chân dung và phong cách. Có thể xem cuốn sách này là tinh hoa phê bình Nguyễn Đăng MạnhĐơn giản vì những gì tiêu biểu nhất cho phong cách của ông đều họp mặt ở đây. Đối tượng ông ham mê nhất là tác giả. Điều ông rành nhất ở một tác giả là tư tưởng và phong cách. Lối viết bao trùm nhất là phê bình – nghiên cứu­. Kiểu tâm đắc nhất là phê bình – chân dung… Thì ở đây có cả.
Hình như người ta có chia phê bình làm hai lối chính : phê bình hàn lâm và phê bình nghệ sĩ. Mỗi lối có ưu thế. Và có vẻ phân liệt nhau. Hàn lâm thì mạnh về khảo cứu, lí lẽ tự biện, ưu đầy đủ, hệ thống, lớp lang. Nghệ sĩ thì mạnh thụ cảm, ngẫu hứng, sống động, thích xoáy vào những ấn tượng tài tử. Lối thứ nhất xem ra hợp với những cây bút đại học. Nó là sở trường và dường như cũng là giới hạn của họ. Lối thứ hai, cố nhiên, hợp với cánh nhà văn. Ngoài một số người ta là ta mà lại cứ mê ta 4, còn thì khối người cứ đứng bờ bên này mà thèm thuồng bên kia. Nhưng có thật ai cũng thuộc về một trong hai ô thuốc bắc ấy không ? Thực tế bao giờ cũng đa dạng chứ không nghèo thế. Trong đời thực đâu cso thiếu những người đã xé rào. Cũng không thiếu người sinh ra để hoà giải. Nguyễn Đăng Mạnh là xé rào hay hoà giải ?
Đọc hàng loạt bài viết hồi đầu về Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Xuân Diệu, Nguyên Hồng, Nguyễn Khải, Hồ Chí Minh, Tố Hữu… thấy ông nghiên về lối hàn lâm. Điều này dễ hiểu. Chẳng phải điểm xuất phát của ngòi bút này là bục giảng đại học hay sao? Phê bình của ông cất lên từ những nghiên cứu tử công phu vào tư tưởng và phong cách tác giả. Ấy là một nhà khoa học viết phê bình. Cái tên của tập sách đầu cho thấy ông có ý thức rõ về cái chỗ rất mạnh của mình là sự am tường về Tư tưởng và Phong cách của tác giả văn học. Nhưng phê bình của ông, theo như Hoàng Ngọc Hiến, là phê bình có văn. Đương nhiên không phải là thứ “làm văn” – nghĩa là văn hoa sáo sậu. Các nhận định sắc sảo thường thấm đẫm tâm huyết. Kiến giải tỉnh táo khách quan mà không thiếu đồng cảm. Câu văn không chỉ sáng trí mà còn nồng tình. Có chất văn là do thế chứ đâu phải chuyện trang sức bề ngoài. Cứ đọc những bài: Mâu thuẫn cơ bản trong thế giới quan và sáng tác Vũ Trọng Phụng, Mấy ý nghĩ nhỏ về một phong cách lớn, Đọc Cửa biển, nghĩ về Nguyên Hồng và tiểu thuyết, Thương tiếc nhà văn Nguyên Hồng, nhất là bài Nguyễn Tuân… hẳn người đọc sẽ có khoái thú được thấy khoa học và văn chương như hai nửa của cái ngòi bút vẫn hợp lại nơi đầu ngòi để gieo xuống trang giấy từng nét chữ, từng câu văn vậy. Thế nên tôi cứ đinh ninh ông là nhà khoa học trong ý nghĩ và là nghệ sĩ trong diễn đạt. Nhưng không hẳn. Tôi ngờ rằng đến bài Mấy lần được gặp nhà văn Nguyên Hồng, ông có ý thức chuyển hẳn lối viết. Phê bình – nghiên cứu quen thuộc của ông bắt đầu có nét của một diện mạo mới phê bình – chân dung. Bài ấy tất nhiên là chưa hay mấy. Thử nghiệm mà. Đến những bài về Xuân Diệu, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Đình Thi… thấy nhuần nhuyễn hơn. Còn loạt bài được viết vài năm trở lại đây về Tô Hoài, Nguyễn Khải, Chế Lan Viên, Nguyễn Lương Ngọc, Chính Hữu, Nguyên Ngọc… thì rõ ra là chân dung văn học rồi.
Hình như vào buổi ban sơ của thể loại, chân dung văn học là một lãnh địa của sáng tác. Và người viết thường chỉ chú trọng đến con người nhà văn bên ngoài trang văn. Bấy giờ, chân dung nghiêng về bút kí, hồi kí hơn. Từ việc chưng cất những kỉ niệm sống, người ta có thiên hướng dựng hình ảnh nhà văn lên như một hình tượng nhân vật theo kiểu sáng tác. Về sau, tình hình khác dần. Người ta thấy ra rằng chân dung còn là một dạng đặc biệt của phê bình. Nó không thể là độc quyền của giới nào. Cánh phê bình chuyên nghiệp đầu quân vào đấy khá hăm hở. Dĩ nhiên là không đơn giản. Dù muốn dù không, đã chân dung tất phải dựng được cái con – người - đời của nhà văn. Làm điều này không thể thiếu những chi tiết sống. Thậm chí phải khắc hoạ ra hẳn thành hình tượng văn học sống động về anh nhà văn ấy. Dân nghiên cứu đơn thuần không thể nói là sở trường về khoản này được. Sở trường của nghiên cứu, có chăng là nắm cái con – người – văn qua tác phẩm thôi. Đã là chân dung văn học về nhà văn thì thiếu một trong hai con người kia, xem ra, không ổn, không đạt. Dứt khoát phải tìm được sự thống nhất giữa con – người – văn và con – người - đời, rồi làm sống dậy trong một diện mạo bằng cách hoà điệu nhuần nhuyễn cả hai vào từng nét vẽ một. Người ta vừa thấy con người nhà văn, vừa thấy được văn nghiệp của anh ta, lại vừa thấy được văn đúng là người trong chiều sâu của nó. Ai bảo không khó? Làm được thế anh phải có cả hai: vừa khoa học vừa nghệ sĩ. Không phải khoa học khi lập ý, nghệ sĩ khi diễn đạt, như hai công đoạn tách rời. Cả hai phải nhuyễn trong một cái tạng tư duy: tạng “hoà giải”. Bởi chân dung văn học thực thụ chính là một thể loại hoà giải.
Ai cũng biết cơ chế hoà giải không phải là một phép cộng giản đơn 50% này với 50% kia. Bao giờ nó cũng có một độ “nghiêng” nào đấy. Chân dung viết về các đồng nghiệp của các cây bút như Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài, Vũ Bằng, Tạ Tị, Thế Uyên, hay gần đây là của Trần Đăng Khoa… không thiếu nghiên cứu, nhưng rõ ràng chúng nghiêng về lối sáng tác hơn. Còn chân dung được viết bởi Trần Thanh Mại, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Đức Bính, Nguyễn Huệ Chi, Vương Trí Nhàn, Đỗ Lai Thuý… thì không thiếu phóng túng tung tẩy, song phần giàu hơn vẫn là tính nghiên cứu. Tôi nghĩ rằng trong làng phê bình đại học, Nguyễn Đăng Mạnh là một cây bút giàu chất nghệ sĩ. Nhưng chất học thuật hàn lâm vẫn nặng căn hơn. Quá trình vượt mình của ngòi bút này, ở một mặt nào đó, chính là gắng vượt thoát chất hàn lâm ấy. Nói đúng hơn, trong mỗi trang viết, ông muốn nhấn chìm phía hàn lâm xuống để cho phía nghệ sĩ bật nổi bên trên. Các trang viết của ông cho thấy ông khá thoải mái đối với luật chơi khắt khe của chân dung. Chúng vừa có chi tiết thực bởi những kỉ niệm của ông với các nhà văn ấy. Lại tạo được cái gạch nối giữa các chi tiết sống kia với các luận điểm về tác giả. Người thích những tư liệu thực có thể lượm ở đây khối chuyện thú vị về nhà văn. Người cần những ý tưởng khoa học có thể tìm ở đó những nhận định tin cậy. Tô Hoài thích kể những chuyện nhếch nhác của con người trong đời thường, thì cũng là người viết với một quan niệm nghệ thuật tương ứng “con người là con người”. Xuân Diệu khi đọc thơ cho người khác nghe, bao giờ cũng vừa đọc thơ vừa minh hoạ bằng toàn thân đầy nhiệt tình, thì nhiệt hứng lớn nhất trong thơ cũng là “niềm khát khao giao cảm với đời”. Nguyên Ngọc ngày thường ưa kể lại những chuyện dữ dội, hào hùng, hoang dã, cũng là một tác giả lãng mạn giàu chất sử thi, là cây bút ham sáng tạo ra những hình tượng, những tính cách đẹp một cách hoang dã như Núp, T’nú, Cụ Mết… Trong khi Chính Hữu lại là mối liên hệ có vẻ như tương phản: ngoài đời chả hay chuyện trò gì, bao giờ cũng thích đi ngủ sớm, nhưng trong thơ lại rất thích hành quân ồn ào náo động… Ngòi bút Nguyễn Đăng Mạnh đã chộp những chi tiết ấy thật tinh và cũng thật tinh … quái. Đọc xong, cái đọng lại không chỉ là một hệ thống kiến giải về phong cách nghệ thuật, tư tưởng nghệ thuật, mà còn hiện lên cả một hình hài. Thế là chân dung văn học chứ sao! Tôi biết có những chân dung ông ngẫm cả một đời nghiên cứu, ông ghi chép trong nhiều cuốn sổ, có lúc tưởng như bất lực, thế rồi nó đã vụt ra trong khoảnh khắc, lối xuất thần. Bài Chế Lan Viên, bài Nguyên Ngọc là thế, nhất là bài Tô Hoài. Có hồi ông tưởng không thể nào nắm bắt nổi tư tưởng Tô Hoài, một cây bút đa dạng, dẻo dai mà ngỡ cứ bằng phẳng như không ấy. Nhưng rồi vào đầu mùa xuân 2001, những suy ngẫm bất chợt chín dậy. Thế là thành bài, một bài hay, một chân dung sâu sắc. Người đọc thấy “rất ra” Tô Hoài. Với trường hợp nào ông cũng cố gắng chộp được cái thần của mỗi vị. Hình như nghiên cứu nắm được con – người – văn rồi, giao du tóm được con – người - đời rồi cũng vẫn chưa dựng được. Phải đưa tất cả vào lòng, nhào nặn thế nào đó mới nổi hình hài, thì mới ra được thì phải. Đọc các bài phê bình kiểu này, cả người đọc khó tính hẳn cũng thấy công phu tâm huyết và tài hoa của ông đã được đền đáp nhiều.
Tôi muốn nói thêm: trước, giọng ông nghiêng về lối trang trọng sử thi nên có phần xa cách và hàn lâm. Càng gần đây giọng điệu có phần thân mật hơn, suồng sã hơn, đời hơn. Hình như chân dung cứ phải thế mới thích hay sao ấy.