CHÀO MỪNG

Chào mừng bạn đến với blog Học Văn của học sinh trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn Bình Định - Mọi thông tin liên hệ, đóng góp bài vở, xin gửi về vankhoa11@gmail.com hoặc liên hệ trực tiếp với lớp trưởng Chuyên Văn khoá 11 Đỗ Lê Bảo Duyên - LPHT Trần Thái Diễm Chi

Thứ Năm, 7 tháng 7, 2011

Kĩ thuật 6 chiếc nón tư duy của Edward de Bono

Kĩ thuật 6 chiếc nón tư duy (Six thinking hats) hiện nay được vận dụng rất nhiều trong các lĩnh vực khác nhau, trong đó, có thể áp dụng vào dạy học bộ môn Văn rất hiệu quả. Xin giới thiệu tài liệu song ngữ biên tập lại từ file PDF để mọi người cùng tham khảo!
Kỹ thuật “6 chiếc nón tư duy” (6 Thinking Hats) là một kỹ thuật mạnh mẽ và độc đáo được Edward de Bono phát triển vào năm 1985. Kỹ thuật này nhằm hướng mọi người cùng tập trung vào vấn đề từ cùng một góc nhìn, do đó sẽ triệt tiêu hoàn toàn các tranh cãi xuất phát từ các góc nhìn khác nhau. 
   Để có thể tập trung mọi suy nghĩ của mọi người vào cùng một khía cạnh của vấn đề, Edward de Bobo đã đưa ra một phương pháp ẩn dụ thông qua 6 chiếc nón với 6 màu khác nhau: trắng, đỏ, vàng, đen, xanh lá cây và xanh da trời. Lưu ý rằng, 6 chiếc nón này chỉ là một cách thức tượng trưng, không cần phải có 6 cái nón thật khi tiến hành kỹ thuật này. Ý nghĩa của 6 chiếc nón với 6 màu khác nhau này được trình bày bên dưới:
Nón trắng: mang hình ảnh của một tờ giấy trắng, thông tin, dữ liệu. Khi chúng ta tưởng tượng đang đội chiếc nón trắng, chúng ta chỉ cần suy nghĩ về các thông tin, dữ kiện liên quan đến vấn đề đang cần giải quyết.
Một số câu hỏi có thể sử dụng:
-Chúng ta có những thông tin gì về vấn đề này?
-Chúng ta cần có những thông tin nào liên quan đến vấn đề đang xét?
-Chúng ta thiếu mất những thông tin, dữ kiện nào? 
Nón đỏ: mang hình ảnh của lửa đang cháy trong lò, con tim, dòng máu nóng,  sự ấm áp. Khi tưởng tượng đang đội chiếc nón đỏ, chúng ta chỉ cần đưa ra các cảm giác, cảm xúc, trực giác của mình về vấn đề đang giải quyết. Chỉ đưa ra các cảm giác, không cần giải thích.
Một số câu hỏi có thể sử dụng:
-Cảm giác của tôi ngay lúc này là gì?
-Trực giác của tôi mách bảo điều gì về vấn đề này?
-Tôi thích hay không thích vấn đề này?  
Nón vàng: mang hình ảnh của ánh nắng mặt trời, sự lạc quan, các giá trị, các lợi ích, vàng 9999. Người đội nón vàng sẽ đưa ra các ý kiến lạc quan, có logic, các mặt tích cực, các lợi ích của vấn đề, mức độ khả thi của dự án. 
Một số câu hỏi có thể sử dụng:
-Những lợi ích khi chúng ta tiến hành dự án này là gì?
-Đâu là mặt tích cực của vấn đề này?
-Liệu vấn đề này có khả năng thực hiện được không?
Nón đen: Hãy liên tưởng đến các điểm yếu, các lỗi, sự bất hợp lý, sự thất bại. Vai trò của chiếc nón đen là giúp chỉ ra những điểm yếu trong quá trình suy nghĩ của chúng ta. Chiếc nón đen để dùng cho “sự thận trọng”, nó chỉ ra các lỗi, các điểm cần lưu ý, các mặt yếu kém, bất lợi của vấn đề hay dự án đang tranh cãi. Chiếc nón đen đóng vai trò hết sức quan trọng, nó đảm bảo cho dự án của chúng ta tránh được các rủi ro, nó ngăn chúng ta làm điều sai, bất hợp pháp hay nguy hiểm.
Một số câu hỏi có thể sử dụng:
Những rắc rối, nguy hiểm nào có thể xảy ra?
Những khó khăn nào có thể phát sinh khi tiến hành làm điều này?
Những nguy cơ nào đang tiềm ẩn?
Nón xanh lá cây: Hãy liên tưởng đến cây cỏ xanh tươi, sự nảy mầm, sự đâm chồi, sự phát triển. Chiếc nón xanh lá cây tượng trưng cho sự sinh sôi, sáng tạo. Trong giai đoạn đội nón này, chúng ta sẽ đưa ra các giải pháp, ý tưởng cho vấn đề đang thảo luận.
Một số câu hỏi có thể sử dụng:
Có những cách thức khác để thực hiện điều này không?
Chúng ta có thể làm gì khác trong trường hợp này?
Các lời giải thích cho vấn đề này là gì?
Nón xanh da trời: Hãy nghĩ đến bầu trời xanh lồng lộng, sự bao quát. Chiếc nón xanh da trời sẽ có chức năng giống như nhạc trưởng, nó sẽ tổ chức các chiếc nón khác- tổ chức tư duy. Nón xanh da trời sẽ kiểm soát tiến trình tư duy. Đây là chiếc nón của người lãnh đạo hay trưởng nhóm thảo luận. Vai trò của người đội nón xanh da trời là:
- Xác định trọng tâm và mục đích thảo luận cho nhóm (Chúng ta ngồi ở đây để làm gì? Chúng ta cần tư duy về điều gì? Mục tiêu cuối cùng là gì?)
- Sắp xếp trình tự cho các chiếc nón trong suốt buổi thảo luận. Người đội nón xanh da trời cần bảo đảm nguyên tắc vàng sau: “Tại một thời điểm nhất định, mọi người phải đội mũ cùng màu”. 
      - Cuối cùng, tập hợp mọi ý kiến, tóm tắt, kết luận và ra kế hoạch (Chúng ta đã đạt được gì qua buổi thảo luận? Chúng ta có thể bắt đầu hành động chưa? Chúng ta có cần thêm thời gian và thông tin để giải quyết vấn đề này?)
   Chúng ta thấy rằng, với kỹ thuật 6 chiếc nón tư duy, mọi người sẽ cùng tập trung giải quyết vấn đề từ cùng một góc nhìn do đó sẽ không xảy ra xung đột do những quan điểm khác nhau. Ngoài ra, một vấn đề sẽ được xem xét từ nhiều khía cạnh trước khi được quyết định, điều này sẽ giúp chúng ta có các quyết định hiệu quả và đúng đắn. 
   Sáu chiếc nón tư duy có nhiều ứng dụng cụ thể:
  -Đào tạo về sáng tạo, điều phối cuộc họp, quản lý cuộc họp.
   -Tăng năng suất làm việc và trao đổi trong nhóm.
   -Cải tiến sản phẩm và quá trình và Quản lý dự án.
   -Tư duy phân tích, Giải quyết vấn đề, và Ra quyết định. 
   Kỹ thuật 6 chiếc nón tư duy đã được sử dụng rất rộng rãi trên thế giới và trong nhiều công ty lớn thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như kinh doanh, giáo dục, quản lý,… Ngày nay, hàng trăm ngàn người đã được đào tạo kỹ thuật Six Thinking Hats® và các tổ chức như Prudential Insurance, IBM, Federal Express, British Airways, Polaroid, Pepsico, DuPont, và Nippon Telephone and Telegraph cũng sử dụng Six Thinking Hats®.

Six Thinking Hats
Looking at a Decision From All Points of View
 
'Six Thinking Hats' is a powerful technique that helps you look at important  decisions from a number of different perspectives. It helps you make better decisions by forcing you to move outside your habitual ways of thinking. As such, it helps you understand the
full complexity of the decision, and spot issues and opportunities to which you might otherwise be blind.
This tool was created by Edward de Bono in his book '6 Thinking Hats'.

Many successful people think from a very rational, positive viewpoint. This is part of the reason that they are successful. Often, though, they may fail to look at a problem from an emotional, intuitive, creative or negative viewpoint. This can mean that  they underestimate resistance to plans, fail to make creative leaps and do not make essential contingency plans.
Similarly, pessimists may be excessively defensive, and more emotional people may fail to look at decisions calmly and rationally.

If you look at a problem with the 'Six  Thinking Hats' technique, then you will solve it using all approaches. Your decisions and plans will mix ambition, skill in execution, sensitivity, creativity and good contingency planning.
 
How to Use the Tool:
You can use the Six Thinking Hats technique in meetings or on your own. In meetings it has the benefit of blocking the confrontations that happen when people with different thinking styles discuss the same problem.

Each 'Thinking Hat' is a different style of thinking. These are explained below:
  White Hat:
With this thinking hat you focus on  the data available. Look at the information you have, and see what you can learn from it. Look for gaps in your knowledge, and either try to fill them or take account of them.

This is where you analyze past trends, and try to extrapolate from historical data.
  Red Hat:
'Wearing' the red hat, you look at problems using intuition, gut reaction, and emotion. Also try to think how other people will react emotionally. Try to understand the responses of people who do not  fully know your reasoning.
  Black Hat:
Using black hat thinking, look at all the bad points of the decision. Look at it cautiously and defensively. Try to  see why it might not work. This is important because it highlights the weak points in a plan. It allows you to eliminate them, alter them, or prepare contingency plans to counter them. 
 
Black Hat thinking helps to make your plans 'tougher' and more resilient. It can also help you to spot fatal flaws and risks before you embark on a course of action. Black Hat thinking is one of the real benefits of this technique, as many successful people get so used to thinking positively that often they cannot see problems in  advance. This leaves them under-prepared for difficulties.
  Yellow Hat:
The yellow hat helps you to think positively. It is the optimistic viewpoint that helps you to see all the benefits of the decision and the value in it. Yellow Hat thinking helps you to keep going when everything looks gloomy and difficult.
  Green Hat:
The Green Hat stands for creativity. This is where you can develop creative solutions to a problem. It is a freewheeling way of thinking, in which there is little criticism of ideas. A whole range of  creativity tools can help you here.
  Blue Hat:
The Blue Hat stands for process control. This is the  hat worn by people chairing meetings. When running into difficulties because ideas are running dry, they may direct activity into Green Hat thinking. When contingency plans are needed, they will ask for Black Hat thinking, etc.
A variant of this technique  is to look at problems from the point of view of different professionals (e.g. doctors, architects, sales directors, etc.) or different customers.

Download our free Six Thinking Hats worksheet, and use it next time you are preparing for a meeting where a decision or course of action will be discussed.

Example:
The directors of a property company are looking at whether they should construct a new office building. The economy is doing well, and the amount of vacant office space is reducing sharply. As part of their decision they decide to use the 6 Thinking Hats technique during a planning meeting.
 
Looking at the problem with the White Hat, they analyze the data they have. They examine the trend in vacant  office space, which shows a sharp reduction. They anticipate that by the time the office block would be completed, that there will be a severe shortage of office space. Current government projections show steady economic growth for at least the construction period.
With Red Hat thinking, some of the directors think the proposed building looks quite ugly. While it would be highly cost-effective, they worry that people would not like to work in it.
 
When they think with the Black Hat, they worry that government projections may be wrong. The economy may be about to enter a 'cyclical downturn', in which case the office building may be empty for a long time.
 
If the building is not attractive, then companies will choose to work in another better-looking building at the same rent.
 
With the Yellow Hat, however, if the economy holds up and their projections are correct, the company stands to make a great deal of money.
 
If they are lucky, maybe they could sell the building before the next downturn, or rent to
tenants on long-term leases that will last through any recession.
With Green Hat thinking they consider whether they should change the design to make the building more pleasant. Perhaps  they could build prestige offices that people would want to rent in any economic climate. Alternatively, maybe they should invest the money in the short term to buy up property at a low cost when a recession comes.
The Blue Hat has been used by the meeting's Chair to move between the different thinking styles. He or she may have needed to keep other members of the team from switching styles, or from criticizing other peoples' points.
 
It is well worth reading Edward de Bono's book  6 Thinking Hats for more information on this technique.

Key points: 
Six Thinking Hats is a good technique for looking at the effects of a decision from a number of different points of view.
 
It allows necessary emotion and skepticism to be brought into what would otherwise be purely rational decisions. It opens up the opportunity for creativity within Decision Making. The technique also helps, for example, persistently pessimistic people to be positive and creative.
 
Plans developed using the '6 Thinking Hats' technique will be sounder and more resilient than would otherwise be the case. It may also help you to avoid public relations mistakes, and spot good reasons not to follow a course of action before you have committed to it.

Thứ Bảy, 18 tháng 6, 2011

Đề thi Chuyên Văn vào 10 năm 2011 - Lê Quý Đôn Bình Định


KỲ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10
Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn, năm học 2011-2012
Đề chính thức

Môn: NGỮ VĂN (Chuyên)
Thời gian làm bài:150 phút
Ngày thi: 18/6/2011______________
Câu 1:(2 điểm)
a) Chỉ ra nghĩa của từ "điếc" trong các lần dùng sau:

-Làm điếc tai người ta.
-Củ lạc này bị điếc.
-Người này bị điếc
-Cái chuông này bị điếc
b) Trong câu thơ:
"Sương......đầu ngọn cỏ
Sương lại càng long lanh"

("Thăm lúa" - Trần Hữu Thung)
Lần lượt đặt các từ đọng, treo vào chỗ trống, nêu giá trị biểu cảm của câu thơ trong mỗi lần dùng. Theo em, từ nào hay hơn, vì sao?

Câu 2: (3điểm)
Bàn về việc đọc sách, có ý kiến cho rằng:"Nếu đọc mười quyển sách mà chỉ lướt qua, không bằng chỉ lấy một quyển mà đọc mười lần" ("Bàn về đọc sách" - SGK Ngữ Văn lớp 9 - Tập hai - Tr.4 - NXBGD - 2009).
Em hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 300 từ) trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến trên.

Câu 3 (5 điểm)
Cảm nhận của em qua hai đoạn thơ sau:
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.

(Đồng chí - Chính Hữu)
Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi,
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.

(Bài thơ về tiểu đội xe không kính - Phạm Tiến Duật)
----------HẾT-----------

Thứ Sáu, 17 tháng 6, 2011

Đề thi vào 10 (không chuyên) Lê Quý Đôn Bình Định 2011

Môn: NGỮ VĂN Thời gian làm bài: 120 phút

Đề chính thức

Câu 1: (2 điểm).
Thành phần biệt lập là gì? Xác định thành phần biệt lập trong các phát ngôn sau và nêu giá trị biểu cảm của nó:
a) “Hẳn có lẽ, vì đã sắp hết mùa, hoa đã vãn trên cành, cho nên mấy bông hoa cuối cùng còn sót lại trở nên đậm sắc hơn.” (Bến quê – Nguyễn Minh Châu)
b) “Cô nhìn thẳng vào mắt anh – những người con gái sắp xa ta, biết không bao giờ gặp ta nữa, hay nhìn ta như vậy.” (Lặng lẽ Sapa – Nguyễn Thành Long)

Câu 2: (2 điểm).
Đọc đoạn kết câu truyện “Người con gái Nam Xương” dưới đây:
“Chàng bèn theo lời, lập một đàn tràng ba ngày đêm ở bến Hoàng Giang. Rồi quả thấy Vũ Nương ngồi trên một chiếc kiệu hoa đứng ở giữa dòng, theo sau có đến năm mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng, rực rỡ đầy sông, lúc ẩn, lúc hiện.
Chàng vội gọi, nàng vẫn ở giữa dòng mà nói vọng vào:
- Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống chết cũng không bỏ. Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa.
Rồi trong chốc lát, bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất.”
(Nguyễn Dữ - Truyền kì mạn lục, bản dịch của Trúc Khê Ngô Văn Triện
NXB Văn hóa, Hà Nội, 1962)

Hãy phân tích ý nghĩa của đoạn kết trên.

Câu 3: (6 điểm).
Phân tích đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” (Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du) để làm rõ cảm hứng nhân văn của tác giả.
__________________

Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2011

ĐỀ VÀ ĐÁP ÁN HSG QUỐC GIA MÔN VĂN LỚP 12 NĂM 2011

BỘ GIÁO  DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA
LỚP 12 THPT NĂM 2011

Môn: NGỮ VĂN
Thời gian: 180 phút (không kể thời gian giao đề)
Ngày thi: 11/1/2011
(Đề thi có 01 trang, gồm 02 câu)

Câu 1. (8,0 điểm)
Không nỗ lực khẳng định mình thì khó thành công, nhưng không tỉnh táo chế ngự mình thì dễ vấp ngã. 
Suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên.

Câu 2. (12,0 điểm)
Mỗi hình tượng nhân vật phụ nữ thực sự thành công bao giờ cũng là kết quả của sự phát hiện sâu sắc về nữ tính. 
Bằng việc phân tích một số nhân vật phụ nữ tiêu biểu trong các tác phẩm đã học từ văn học dân gian đến văn học hiện đại, anh/chị hãy làm sáng tỏ nhận định trên.

       ---------------------------- HẾT---------------------------

  Thí sinh không được sử dụng tài liệu.
  Giám thị không giải thích gì thêm.



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

 KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA
LỚP 12 THPT NĂM 2011

ĐÁP ÁN ĐỀ THI CHÍNH THỨC
Môn: NGỮ VĂN
Ngày thi: 11/01/2011
(Gồm 03 trang)

Câu 1. (8,0 điểm)
Thí sinh có thể bộc lộ quan điểm của riêng mình theo những cách thức khác nhau, nhưng cần chân thành, thiết thực, hợp lí, chặt chẽ và thuyết phục. Về cơ bản, cần đạt được một số yêu cầu sau:
1. Về hình thức và kĩ năng (2,0 điểm)  
  - Thí sinh được tự do lựa chọn các kiểu bài và thao tác tạo lập văn bản, nhưng phải phù hợp và nhuần nhuyễn. 
- Thí sinh được tự do huy động các chất liệu thuộc tri thức sách vở, tri thức đời sống và những trải nghiệm của riêng mình...Tuy nhiên, vẫn phải xác định rõ vấn đề thuộc phạm vi nghị luận xã hội chứ không phải nghị luận văn học.
  - Thí sinh cần phải xác định  tâm thế của người trong cuộc: không phải chỉ nói về người khác, cho người khác; mà trước hết, cần phải thấy đây là chuyện của mình, phải nói từ mình, nói cho mình. Ở đây, cùng với nhận thức đời sống còn là quá trình tự nhận thức để vươn tới hoàn thiện nhân cách của chính mình.
  2. Về nội dung (6,0 điểm)
a) Làm rõ nội dung ý kiến (2,0 điểm):  
- Ý kiến gồm hai vế có vẻ trái ngược nhưng thực chất là bổ sung cho nhau: một vế nhấn mạnh vào ý chí, một vế nhấn mạnh vào lý trí.  
- Chỉ rõ: nỗ lực khẳng định mình để thành công và tỉnh táo chế ngự bản thân để tránh vấp ngã, thất bại  đều có vai trò quan trọng như nhau đối với quá trình hoàn thiện nhân cách.   
- Hiểu được: cả sự khẳng định và chế ngự bản thân đều phải phù hợp với chuẩn mực văn hóa, đạo đức, pháp luật của xã hội.   
b) Bàn luận, mở rộng vấn đề (3,0 điểm):
- Khẳng định tính đúng đắn của ý kiến về một vấn đề đã trở thành quy luật trong cuộc sống nhân sinh: để hoàn thiện nhân cách bao giờ cũng cần một ý chí mạnh mẽ cùng một lý trí tỉnh táo. 
- Khẳng định vai trò, tác dụng của vấn đề đối với việc tu dưỡng phấn đấu của con người nói chung, của thanh niên hiện nay nói riêng.
c) Liên hệ bản thân (1,0 điểm):
- Nhận thức sâu sắc về sự cần thiết phải rèn rũa để có được sự mạnh mẽ của ý chí và sự tỉnh táo của lý trí.
- Có những phương hướng cụ thể để trau dồi những phẩm chất trên ngay khi ngồi trên ghế nhà trường. 
  
Câu 2. (12,0 điểm)
  Thí sinh có thể triển khai bài làm của mình theo các cách thức khác nhau và lựa chọn những dẫn liệu khác nhau, có thể có cách nhìn nhận vấn đề theo quan điểm riêng và có hệ thống ý riêng, nhưng  phải có căn cứ xác đáng và lí lẽ thuyết phục. Về cơ bản, cần đạt được một số yêu cầu sau:
  1. Về hình thức và kĩ năng (3,0 điểm)
 Cần xác định đây là kiểu bài nghị luận văn học để triển khai bài làm đúng kiểu văn bản. Cần phát huy đồng thời hai năng lực: nắm bắt và làm sáng tỏ một vấn đề lí luận văn học, cụ thể là lí luận về hình tượng và lao động nghệ thuật của nhà văn; cảm nhận và phân tích được những biểu hiện của nữ tính trong hình tượng nhân vật phụ
nữ của tác phẩm văn học.
  2. Về nội dung (9,0 điểm)
a) Làm rõ nội dung, ý nghĩa của nhận định (3,0 điểm):
- Từ một số tác phẩm văn học đã được học có hình tượng nhân vật phụ nữ, thí sinh cần trình bày cách hiểu của mình về khái niệm “nữ tính” và những biểu hiện sinh động của nó trong đời sống và trong văn học. Lưu ý: đề thi không yêu cầu thí sinh phải lý luận đầy đủ về “nữ tính” mà chỉ cần nêu được những nét đặc trưng của nữ tính trên một số phương diện chính như ngoại hình, thể chất,  đạo  đức, tâm lý, xã hội…Điều quan trọng là thí sinh thấy được rằng hình tượng nhân vật phụ nữ trong văn học đã trải qua quá trình vận động, biến đổi  phản ánh được sự vận động, biến đổi về địa vị xã hội của người phụ nữ qua các giai đoạn lịch sử. 
- Thí sinh cần hiểu được: nhận định nêu trong đề bài nhấn mạnh việc phát hiện phương diện nữ tính của người phụ nữ trong quá trình sáng tạo là nhân tố có ý nghĩa quyết định sự thành công của hình tượng nhân vật phụ nữ trong tác phẩm. Đồng thời thấy được, nhận định cũng gián tiếp đề cập đến một yêu cầu không thể thiếu đối với người nghệ sĩ chân chính: gắn bó với đời sống, hiểu biết kĩ lưỡng về cuộc sống, về con người; trong đó, có việc nhận thức thực sự sâu sắc về giới. 
- Điểm nhìn của tác giả khi xây dựng hình tượng nhân vật phụ nữ cũng cần được lưu ý. Việc tác giả nhìn nhân vật nữ từ quan điểm của người khác giới hay từ chính quan điểm của người phụ nữ có ý nghĩa quan trọng đối với mức độ thành công của hình tượng nhân vật phụ nữ. 
- Cần chỉ rõ:  đây là một nhận  định đúng  đắn, sâu sắc  đề cập  đến một trong những yêu cầu cao về chất lượng đối với sáng tạo nghệ thuật và càng có ý nghĩa đối với những nền văn học còn chưa có nhiều truyền thống về nữ quyền.
b) Phân tích một số hình tượng nhân vật phụ nữ tiêu biểu (6,0 điểm):
- Cần lựa chọn được một số hình tượng nhân vật phụ nữ tiêu biểu trong các tác phẩm từ văn học dân gian cho đến văn học hiện đại đã học, không hạn định về thể loại,  về tác phẩm trong nước hay nước ngoài. 
- Cần làm nổi bật được những biểu hiện phong phú và tinh tế của nữ tính trong khi phân tích vẻ đẹp của các hình tượng nhân vật phụ nữ đó. 
- Cần nêu bật những đặc sắc nghệ thuật trong việc thể hiện nữ tính ở mỗi hình tượng nhân vật mà mình lựa chọn phân tích./.
  
----------------Hết------------------

Thứ Năm, 9 tháng 6, 2011

Chuyên đề chuyên sâu 12

Chuyên đề 12

Thứ Năm, 12 tháng 5, 2011

Hoạt động dã ngoại - nghe thơ tại bảo tàng Quang Trung

Trong dịp đi dã ngoại 11 tháng Giêng Tân Mão hành hương về vùng đất võ Tây Sơn, các em học sinh lớp chuyên 11 Văn - Anh trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn đã được nhà thơ Trần Viết Dũng làm hướng dẫn viên vào Bảo tàng Quang Trung, viếng điện thờ Tây Sơn Tam Kiệt, thăm gốc me cổ thụ nhà 3 anh em Tây Sơn và tham quan bảo tàng. Quả thật hiếm có người Tây Sơn nào lại yêu và tự hào về mảnh đất hào hùng quê hương như anh! Đặc biệt, trước giờ phút chia tay, các em học sinh đã được nhà thơ đọc tặng bài thơ nổi tiếng của mình: VUA VÀ EM.
Xin trân trọng cảm ơn anh Trần Viết Dũng và xin gửi clip này ghi dấu lần gặp gỡ đầy ấn tượng!

Thứ Hai, 28 tháng 2, 2011

Sân chơi thơ trẻ trong Ngày Thơ Việt Nam tại Bình Định

Phóng sự của Đài phát thanh truyền hình Bình Định - có sự góp mặt của Trại Thơ Lê Quý Đôn và phát biểu của Hồ Mỹ Duyên, lớp 11 chuyên Văn!