CLB Văn học trường Chuyên Lê Quý Đôn tham gia Trại thơ từ 13h30 - 18h00
Từ 13h15 - 14h30: Hoàn thành trang trí trại (bộ phận được phân công)
14h30: tập trung tại khu trại, điểm quân số các lớp Văn tham gia
15h00 - 18h00: Nghe thơ và tham gia các tiết mục của CLB
- Hồ Đắc Duy (10A) - hát
- Mỹ Duyên (11V) đọc thơ Ước Cầu vồng
- Khải Duy (10V) đọc thơ Mặc nhiên Xuân
Giao lưu với các trại bạn: CLB Xuân Diệu, CLB Sáng tác trẻ, CLB Trường Thi, CLB Thư pháp, CLB Văn nghệ ĐH Quy Nhơn.
19h00: Học sinh lớp 11 V-A 10 em mặc áo dài đồng phục thực hiện lễ thả bong bóng thơ trong Chương trình chính.
Từ sau 18h00 các thành viên nào không bận thi học sinh giỏi cấp trường và không tham gia chương trình tối có thể ra về.
Thứ Tư, 16 tháng 2, 2011
Thứ Ba, 15 tháng 2, 2011
Hành hương về nguồn cội

Hành hương về nguồn cội…
• Trần Hà Nam
Những ngày đầu xuân Tân Mão 2011, thầy trò lớp chuyên 11 Văn – Anh Lê Quý Đôn Bình Định chúng tôi đã làm một chuyến hành hương về nguồn cội ở hai huyện Tây Sơn và An Nhơn. Trời nắng đẹp, dọc theo lộ trình, hai bên đường sắc lúa đông xuân xanh mơn mởn, và sắc mai vàng đến giờ mới bừng tươi…
Điểm đến đầu tiên là cụm tháp Dương Long thuộc xã Tây Bình (Tây Sơn), di tích văn hóa Chàm đẹp bậc nhất Bình Định đang được trùng tu. Cụm tháp có mỹ danh là Tháp Ngà sừng sững trên khu đồi, dấu tích thời gian hoen trên màu gạch. Những khối đá lặng câm nhưng chứa đựng bao nhiêu huyền tích một thuở của nền văn hóa Chàm rực rỡ. Các phù điêu trên đá bị bào mòn, bị hủy hoại khá nhiều nhưng vẫn lộ ra nét chạm khắc tinh xảo. Không có người thuyết minh, thầy đành phải huy động hết những hiểu biết hạn hẹp về văn hóa Chàm, những kiến thức thu lượm từ thời sinh viên đã từng được nghe chính người địa phương kể lại để chỉ cho học trò biết các biểu tượng tâm linh: rắn thần Naga, tục thờ sinh thực khí qua dấu tích Yoni còn khá nguyên vẹn, kỹ thuật xây tháp của người Chiêm Thành... Lòng mong mỏi một ngày nào đó quay lại sẽ chứng kiến một công trình được phục chế tương đối vẹn nguyên, không có quá nhiều dấu ấn của thời hiện đại can thiệp làm mất đi nét hoang sơ nguyên thủy của di tích.
Từ Tây Bình, xe đưa chúng tôi đến thẳng bảo tàng Tây Sơn ở xã Bình Thành. Quần thể di tích liên quan đến Tây Sơn tam kiệt càng lúc càng được tôn tạo khang trang, thể hiện lòng kính ngưỡng của mọi người với anh em nhà Tây Sơn. Nhà thơ Trần Viết Dũng, một người Tây Sơn chính gốc đã chờ khá lâu, để thân chinh làm người hướng đạo cho các cháu biết rõ về nguồn cội Đất Vua. Cả đoàn vào điện thờ Tây Sơn tam kiệt, kính cẩn dâng hương các ban thờ. Chính giữa điện là tượng của ba Ngài: Thái Đức hoàng đế bên trái, Quang Trung hoàng đế chính giữa và Đông Định vương bên phải. Các pho tượng được dát một lớp vàng mỏng, sáng rỡ uy nghi. Bình thường, các học trò hiếu động là thế, nhưng khi đứng trước các bậc tiền nhân làm rạng danh xứ sở, tất cả đều trang nghiêm thành kính. Những tượng thờ văn thần võ tướng được tạc sống động, tạo nên không khí như một buổi thiết triều nghiêm cẩn. Thầy trò đã đến được với mảnh đất thiêng, được uống nguồn nước trong mát ngọt lịm từ giếng Tiên không bao giờ cạn mạch, được ngồi dưới bóng cây me cổ thụ hơn 300 năm, lòng chợt thấy nhẹ nhàng khoan khoái như tan biến hết cảm giác mệt mỏi. Bảo tàng Tây Sơn được bố trí khá khoa học, nhiều hình ảnh hiện vật quý giá và các sa bàn, mô hình được trưng bày phong phú giúp cho du khách có thể hình dung toàn cảnh về thời đại Tây Sơn: từ họ Hồ cùng gốc gác với nữ sĩ Hồ Xuân Hương đất Nghệ An phát triển thành nhánh vào miền Trung, dừng chân ở miền đất Bình Khê để rồi thành ba anh em nhà Nguyễn Tây Sơn, ứng câu sấm Trạng Trình “Tây khởi nghĩa, Bắc thu công”. Những di tích biết nói, để các thế hệ hậu sinh hiểu thêm về truyền thống Kinh – Thượng một lòng, về sức mạnh của những dân nghèo tập hợp dưới ngọn cờ Nguyễn Nhạc, từ thượng đạo tới hạ đạo Tây Sơn phát triển thành phong trào nông dân mạnh như vũ bão, đánh tan thù trong giặc ngoài, chói sáng tên tuổi người anh hùng bách chiến bách thắng Quang Trung hoàng đế về sau. Nhà thơ Trần Viết Dũng say sưa giảng giải về những vũ khí chứng tỏ sức sáng tạo của quân đội Tây Sơn làm kinh hoàng bạt vía kẻ thù: súng điểu thương, hỏa hổ, thần công… Còn đây, bút tích của vị hoàng đế tài ba gửi cho danh sĩ Bắc Hà là La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, còn đây lời hịch vang dậy hào khí: “Đánh cho để dài tóc – Đánh cho để đen răng – Đánh cho nó chích luân bất phản – Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn – Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ!”. Một thời đại ngắn ngủi nhưng đã kịp ghi lại những thành tựu văn hóa – kinh tế: tượng La Hán chùa Tây Phương, tiền Quang Trung thông bảo,…Thời gian ngắn ngủi không cho phép nán lại lâu, khi ra về, thầy trò ngắm mãi phiên bản bức tượng vua tôi Quang Trung hoàng đế tại chùa Bộc (Hà Nội), càng ngắm càng khâm phục thần thái của người anh hùng áo vải đã được nghệ nhân lưu mãi lại với thời gian: nét phong trần của người xông pha trận mạc, vẻ giản dị không ngờ đậm chất quê kiểng Bình Định. Dưới tượng đài Quang Trung, trước phút chia tay, nhà thơ Trần Viết Dũng lại làm sống dậy hình ảnh Quang Trung qua bài thơ “Vua và Em” của anh – một quân vương đa tình, hào hoa mà mộc mạc, chân tình: “Xưa hoàng đế để ria con kiến – Rất thời trang và rất phong trần – Nên chi con gái thăng Long ấy – Cứ phập phồng ngực công chúa Ngọc Hân…”
Từ Phú Phong xuôi về An Nhơn, điểm dừng chân cuối cùng của thầy trò chúng tôi là di tích thành Hoàng Đế của người anh cả trong tam kiệt: Thái Đức hoàng đế Nguyễn Nhạc. Cung điện đã hoang tàn, chỉ còn trơ nền gạch cũ, nhưng còn đó cặp voi đá trên đường vào thành nội, còn những con nghê đá như chứng tích một thuở hào hùng. Dấu ấn của lần khai quật di chỉ gần nhất làm lộ ra nền cung điện, hồ bán nguyệt lẫn vào nền đất khiến người viếng thăm không khỏi xót xa về sự hủy hoại, trả thù tàn khốc của nhà Nguyễn Gia Miêu muốn xóa sạch chứng tích Tây Sơn trong lòng người Bình Định. Nhưng lòng tôn kính của người dân đất này vẫn bền chặt, bắt rễ vào mạch đất, vững chãi như những cây sung, cây bồ đề cổ thụ từ thuở xa xưa vẫn sống vững chãi, bất chấp sự tàn phá. Trớ trêu thay, cũng chính tại nơi đây, lăng mộ của Võ Tánh vẫn còn nguyên, như chứng tích cho tinh thần mã thượng của người chiến thắng – danh tướng Trần Quang Diệu nhà Tây Sơn. Mới thấy, tướng lĩnh Tây Sơn dẫu xuất thân từ chốn thôn dã, vẫn có sẵn tinh thần nhân văn và thượng võ, đối đầu quyết liệt nơi chiến trường nhưng vẫn rất tôn trọng đối phương vì lòng tận trung với chúa. Hai thái độ ứng xử, lịch sử còn để lại bao bài học hay!
Một chuyến dã ngoại ngắn ngủi, thầy trò chúng tôi được tận mắt chứng kiến những dấu tích trên mảnh đất quê hương giàu truyền thống lịch sử - văn hóa. Những hình ảnh lưu lại khoảnh khắc khó quên sẽ giúp các em tự hào hơn về quê hương mến yêu, hiểu thêm về đất và người Bình Định.
14.2.2011
T.H.N
Ảnh: https://picasaweb.google.com/Namlqd/DuXuan2#
Chủ Nhật, 13 tháng 2, 2011
Hoạt động dã ngoại 11VA
Hình ảnh lớp 11 Văn - Anh hoạt động dã ngoại tại Tây Sơn và An Nhơn - hai địa phương giàu truyền thống lịch sử - văn hóa của tỉnh Bình Định
Du xuân 2
Du xuân 2
Thứ Tư, 9 tháng 2, 2011
Tình tự Tràng giang
Tương tư đôi chốn, tình ngàn dặm
Vạn lí sầu lên núi tiếp mây...
Ta có nghe chăng, vọng từ âm hưởng tràng giang nỗi sầu lan tỏa?
Ta có nghe chăng, âm điệu Đường thi gặp gỡ tâm tình người thanh niên thời đại lãng mạn?
Và lại chợt nghe một lời ngâm dìu dặt, từ một không gian Huy Cận:
Tai nương nước giọt mái nhà
Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn...
Vạn lí sầu lên núi tiếp mây...
Vọng về từ không gian những vần thơ Huy Cận, đánh thức trong lòng ta chút cảm thức về vũ trụ bao la và phận người nhỏ bé - giữa bầu trời mặt đất là cái tình vương vấn đậm chất lãng mạn của một "chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm...".
Nói đến Huy Cận là nói đến cái sầu vũ trụ thời Thơ Mới - khi lòng người thanh niên quá hoang mang trước bao biến động cuộc đời, mong tìm một chút tình bấu víu, tìm một tấm lòng sẻ chia. Nỗi niềm ấy kết đọng trong Tràng giang, bàng bạc lòng quê giữa mênh mang sóng nước.
Ta có nghe chăng, vọng từ âm hưởng tràng giang nỗi sầu lan tỏa?
Ta có nghe chăng, âm điệu Đường thi gặp gỡ tâm tình người thanh niên thời đại lãng mạn?
Và lại chợt nghe một lời ngâm dìu dặt, từ một không gian Huy Cận:
Tai nương nước giọt mái nhà
Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn...
Có bao ẩn tình từ sóng nước tràng giang! Vô tình lại nhớ đến lời của người phát ngôn tinh thần Thơ Mới - Hoài Thanh: "Đi sâu vào hồn của một người, ta gặp được hồn của nòi giống; đi sâu vào hồn một nòi giống, ta gặp hồn chung cho cả loài người...". Phải chăng vì vậy mà ta gặp Thôi Hiệu của một "nhật mộ hương quan hà xứ thị", một Đỗ Phủ "Tái thượng phong vân tiếp địa âm" mà Nguyễn Công Trứ dịch thành tứ "Mặt đất mây đùn cửa ải xa" ...trong các câu chữ, hình ảnh thơ của Tràng giang. Và dẫu cho có "cách hơn một nghìn năm và hai thế giới", hóa ra nỗi buồn con người thời đại nào cũng có sự gặp gỡ trong ý thức về thân phận, về nhân thế!
Điều đọng lại trong tình tự tràng giang chính là lòng quê sâu thẳm, cái tình quê đậm đà ...để làm điểm tựa cho cánh chim cô đơn chấp chới trong bóng chiều trĩu nặng, để sáng bừng lên nắng chiều dát bạc tỏa sáng lòng sông, lòng người. Thương và đáng trân trọng biết bao lời thơ của những ngày non nước chìm đắm trong cảnh nô lệ, để đánh thức từ cảm nhận về sự bơ vơ lạc loài một tình yêu dân tộc, đất nước!
1.2011
T.H.N
Điều đọng lại trong tình tự tràng giang chính là lòng quê sâu thẳm, cái tình quê đậm đà ...để làm điểm tựa cho cánh chim cô đơn chấp chới trong bóng chiều trĩu nặng, để sáng bừng lên nắng chiều dát bạc tỏa sáng lòng sông, lòng người. Thương và đáng trân trọng biết bao lời thơ của những ngày non nước chìm đắm trong cảnh nô lệ, để đánh thức từ cảm nhận về sự bơ vơ lạc loài một tình yêu dân tộc, đất nước!
1.2011
T.H.N
Thứ Ba, 8 tháng 2, 2011
Cái tôi trữ tình của Huy Cận
- ĐỖ LÊ BẢO DUYÊN
Nỗi buồn của nơi quán chật đèo cao, của sông dài trời rộng, nỗi buồn
rất buồn và cũng rất xôn xao. Với Huy Cận, những nỗi buồn ấy như triền
miên, day dứt hơn bao giờ hết khi tiếng của điệu hồn thiên cổ cất lên,
làm cho mạch sâu ngàn năm chợt da diết, chơi vơi.
của đêm mưa cô đơn hiu hắt, trong niềm nhớ thương trải ra cùng với
những hồn thơ hoang mang, nặng trĩu một nỗi sầu cho suốt một thời kìrất buồn và cũng rất xôn xao. Với Huy Cận, những nỗi buồn ấy như triền
miên, day dứt hơn bao giờ hết khi tiếng của điệu hồn thiên cổ cất lên,
làm cho mạch sâu ngàn năm chợt da diết, chơi vơi.
Thứ Hai, 24 tháng 1, 2011
Tràng giang- Bài viết của Hồ Minh Tú
“Ông không làm mê ta bằng màu sắc và âm điệu;ông có một sức quyến rũ lạ lùng hơn, khó hiểu hơn; là mùi thơm…;thơ ông không phải là rượu rót vào chén, thơ ông là men đương lên,…”- cái men thơ Huy Cận đã từng làm say ông hoàng thơ tình Xuân Diệu.Thi sĩ xuất hiện giữa làng thơ Việt Nam lúc ấy làm chếnh choáng bao tâm hồn khao khát đồng điệu. Huy Cận đã mang cái hương vị rất riêng của ông vào trong thơ, cái “hồn buồn Á Đông” man mác, mà thấm thía trong từng dòng chảy “Tràng Giang”.
Người sinh ra trong thế kỉ đau buồn của dân tộc. Cũng như bao lớp người trẻ tuổi lúc đó, trước thực tại bế tắc, thi sĩ không khỏi hoang mang, mất niềm tin vào cuộc đời. Người đã trút mọi nỗi niềm vào thơ ca, nên mỗi tác phẩm đều là mỗi lời tâm tình tha thiết, từ đáy lòng vang ra, dội ngược vào trong đáy lòng- cái thế giới cô đơn đầy ám ảnh của ông. Có lẽ bởi đồng cảnh ngộ, tâm thế chung của các nhà thơ Mới đã thấm thía một cách đầy đủ trong ông nhưng không phải vì thế mà ông trở nên mờ nhạt , tiêu tan. Đã từng có một Xuân Diệu “sôi nổi, bồng bột”; một Chế Lan Viên “kì dị’’, một Hàn Mặc Tử “đau thương” đến điên cuồng, một Nguyễn Bính bình dị, chân quê,… làm rung chuyển nền móng thơ vốn cũ kỹ, sáo mòn trước kia, thay vào đó là những cảm xúc mới mẻ, tinh vi. Huy Cận không là ai nhưng cái tôi trữ tình trong thơ ông có dấu ấn đậm nét đối với người đọc, mà nói như Hoài Thanh, đó là sức mạnh kì lạ của một tâm hồn “ảo não như Huy Cận”. Cùng một số bài thơ khác trong phong thơ Mới,Tràng Giang để lại ấn tượng khó phai theo thời gian, tưởng chừng bây giờ vẫn còn nguyên vẹn cái hồn buồn não nề ấy, tha thiết gọi về.
Xưa kia, trên bến Tràng Giang, bao li khách sắp sửa ra đi mà lòng không khỏi bồi hồi, xao xuyến bởi cảnh sông nước xa xăm kia gợi lại. Nay, đứng trên bến con sông Hồng quê nhà, không phải đi xa nhưng dường như Huy Cận cũng mang tâm trạng của li khách thuở
nào, mà nhớ thương, mà luyến tiếc một nỗi niềm không tên. Những tình cảm ấy dâng đầy trong ông, để tứ thơ cứ miên man chảy mãi:
“Sóng gợn Tràng Giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song,
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng.”
Ngay từ khổ đầu đã thấy hiện lên những hình ảnh đầy u buồn. Dòng sông, con thuyền, cành củi khô quen thuộc trong cổ thi lại hiện về nhưng không thấy những ước lệ sóng đôi về con thuyền- bến nước,… như xưa. Thay vào đó là sự hiện hữu rời rạc của cảnh vật. Những con sóng không buồn nhấp nhô, hòa mình vào sông lớn mà cứ chậm rãi từng gợn nhẹ, từng gợn nhẹ, rồi biến mất trong dòng chảy mênh mông. Nhịp điệu buồn tẻ ấy cứ lặp đi lặp lại, “điệp điệp” , làm nỗi sầu như kéo dài thêm, triền miên, vô tận. Con thuyền cũng không buồn lái, để mặc xuôi theo dòng nước lặng lờ. Ngay cả dòng nước trong bản thân con sông cũng không thiết đến nhau, cứ âm thầm mà chảy ‘:song song”, vờ không quen biết nhau trong đời. Từ những hiện tượng tưởng như vô tri vô giác đó, Huy Cận đã khiến người đọc hình dung ra một thế giới có thật của sông nước với tình cảm dửng dưng như con người. Là bởi con mắt nhà thơ nhạy cảm quá, nên thấy đâu cũng một tình cảnh như mình. Không những vậy, đối với chia li, người lại có dự cảm tinh tế hơn. Người thấy trong dòng nước,mà ta có thể tạm liên tưởng đến dòng đời kia, sự cách biệt không thể nào tránh khỏi. Đến một lúc nào đó, trên cuộc hành trình của mình, chỉ còn nước mải miết trong cô độc. Vốn lòng sông đã rộng thênh thang, nay lại thêm dài ra, rộng ra bởi nỗi “sầu trăm ngả” của dòng nước. Trơ trọi lại càng thêm trơ trọi , rời rạc lại nối tiếp rời rạc, cành củi khô một mình lạc lõng giữa dòng chảy, không biết đi đâu về đâu gợi nỗi chua xót thân phận xiết bao! Không phải là một “bông hoa tím biếc” “mọc giữa dòng sông xanh”(Thanh Hải) mà là nhành củi khô ráo hoảnh sự sống, một nhành củi rỗng ruột, vô vọng. Nó thay lời tác giả với cuộc đời, như khúc ru buồn vẫn tiếp tục điệu nhạc réo rắt, thê lương của nó:
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.
Đến đây, bài thơ mới thấy xuất hiện những âm thanh đầu tiên. Nhưng trước hết phải nói đến khung cảnh nơi mà âm thanh đó được lắng nghe: trên cồn đất nhỏ, xung quanh không có một sự trỗi dậy nào to lớn hơn. Bốn bề không gian bát ngát với núi non hùng vĩ, sự tồn tại của gò đất càng thêm cô độc, lẻ loi . Sở dĩ ta có thể nhìn được toàn cảnh vậy là vì Huy Cận đã phát huy hết mọi giác quan của mình để đặc tả “cồn đất”,từ đó gợi lên sự rợn ngợp của không gian. Nhà thơ có lần bộc bạch rằng chữ “đìu hiu” là học được từ Chinh phụ ngâm: “Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò”. Đến Huy Cận, nó phảng phất nét cổ điển nhưng cũng mang cảm giác hắt hiu, đơn côi của cái tôi thi sĩ trước thời cuộc. Trạng thái “lơ thơ” cho thấy vẻ tiêu điều, xơ xác đã phủ trùm lên cảnh vật và chiếm lĩnh thế giới nội tâm nhà thơ. Ta thấy rất rõ cảm quan về không gian vũ trụ vô tận của tác giả, mà trong đó sự sống bé nhỏ càng thêm đơn độc hơn, như bị bỏ rơi giữa cuộc đời. Điều đó cắt nghĩa rằng, trong thế giới của riêng mình, Huy Cận không phải đã xóa sạch những dấu ấn của thơ xưa, mà vẫn giữ lại những nét đẹp, những nét thi vị để giãi bày tâm tư. Đặc biệt là thủ pháp “lấy động tả tĩnh” được thi sĩ đan cài khéo léo vào thơ mình, tạo cho cảnh vật nét gần gũi và đượm tình hơn . Ấy là “tiếng làng xa” vọng về, thứ âm thanh mơ hồ của một phiên chợ đã vãn theo gió lan xa mãi. Nhưng ở nơi “đâu” thì tác giả không xác định được. Những âm vang yếu ớt ấy rồi cũng chìm và cảnh chiều hư vô, càng gợi thêm sự vắng vẻ, hiu quạnh nơi đây. Không gian trở nên tịch mịch, u uất . Nó trái hẳn với tiếng “lao xao” thuở nào Nguyễn Trãi ẩn dật nơi thôn quê lắng nghe được. Nó mồ côi, trống vắng. Để lại trong lòng người đọc cảm giác rờn rợn khó hiểu. Có người cho rằng Huy Cận dễ buồn quá, lại đứng trong cảnh chiều buồn nên mới sinh ra những câu thơ âu sầu vậy. Nhưng tôi tin là tự trong lòng người đã chất chứa đầy nỗi buồn nên nó thấm vào cả từng cảnh vật, lan ra bao phủ khắp không gian. Mọi sự cũng buồn theo. Bởi vậy mà trong những hình hài tưởng như rất mới mẻ, vui tươi, người lại thấy nỗi buồn: “ Nắng xuống, trời lên sâu chót vót”. Thật vậy, nắng không ủ rũ, trời không ủ dột nhưng chính sự vận động của chúng tạo nên một khoảng cách không thể nào lấp đầy. Bình thường, đáng lẽ là chiều cao, cao vời vợi nhưng nhà thơ đã tài tình biến nó thành chiều sâu, sâu chót vót để chứa đựng nỗi sầu não vô biên của mình. Người lại thấy bến đợi của một mình mình, mất hút giữa cái rộng lớn khôn cùng của trời đất, mang tên cô liêu. Người cho ta đi mãi, đi mãi để rồi lại gặp người cô quạnh, và người tự bắt gặp mình… Nơi đó cảnh thật đẹp, nhưng buồn và lạnh lẽo quá, nên càng gặp mình thi sĩ lại càng run sợ và ớn lạnh hơn. Cuộc nói chuyện với lòng mình trong hoàn cảnh cô đơn chẳng khác nào dày vò tâm hồn thêm đau đớn. Nó trăn trở không ít lần trong Huy Cận, khiến cho nhiều bài thơ khác của người cũng mang dáng dấp của “Tràng Giang”, đẹp nhưng lạnh lẽo:
Một trời thu rộng, mấy hàng mây nao.”
Cảnh vật thiếu vắng tình người, không có một chút sự xuất hiện của con người. Bà Huyện Thanh quan trước kia chạnh lòng vì cảnh thung lũng hoang vắng, cũng còn nhận thấy sự hiện diện của con người dù là thưa thớt “Lom khom dưới núi tiều vài chú- Lác đác bên sông chợ mấy nhà”(Qua đèo Ngang). Còn với Huy Cận thì tuyệt nhiên chỉ có cảnh với cảnh, ngay cả cái “quán dựng” cũng chẳng hi vọng được thấy sự sống, dù chỉ là mong manh. Chỉ có những nét vẽ quanh co của tạo hóa, với gió, với mưa và bầu trời ăm ắp mây hòa quyện trong một bức tranh hữu tình. Nhưng cảnh đẹp chỉ để gió và thời gian bào mòn mà không có người thưởng thức thì liệu có còn ý nghĩa gì nữa? Phải chăng, Huy Cận đã mượn những nỗi buồn vẩn vơ đó để gửi tâm sự gì kín đáo sâu bên trong, mà một tâm hồn đầy phức tạp như ông không thể nào diễn tả hết bằng lời?
Nhưng chưa dừng lại ở đó, cái tôi của thi sĩ còn đi sâu hơn nữa vào ngọn nguồn của sự cô đơn:
“ Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;
Những cánh bèo nối nhau trôi lênh đênh trên dòng chảy vô định. Không phải vô lí khi cho rằng nhà thơ có chút tủi hờn, oán trách số mệnh. Cũng như bèo kia, thân phận của những con người sinh ra phải chịu chung kiếp nô lệ của dân tộc mình, đất nước mình chẳng mong một tiền đồ tươi sáng. Đau khổ, nhục nhã nhưng bất lực trước thời cuộc rối ren, người trẻ tuổi dễ cảm thương những kiếp sống như mình, “bèo dạt mây trôi”. Huy Cận còn thấy sâu trong đó, cái toàn cảnh của cuộc đời: tất cả mối dây liên lạc đều bị cắt đứt, mọi sự liên hệ chỉ còn là ảo ảnh, quá khứ. Dòng sông rộng vô cùng nhưng không có lấy một con đò, một chiếc cầu để nối liền giữa hai bờ. Cho đến đây, bài thơ đã lần lượt dẫn dắt người đọc đến những khung cảnh đẹp nhưng càng về sau càng buồn, càng trống trải. Giả sử bài thơ đơn thuần chỉ vẽ nên những bức tranh như thế và chấm hết tại đây thì khó lòng gây được dư vị sâu sắc trong lòng người đọc. Khổ cuối cũng chính là khổ thơ hé mở cho người đọc biết điều gì thật sự ẩn sau trái tim đa sầu đa cảm ấy của nhà thơ:
‘ Lớp lớp mây cao đùn núi bạc’
Có thể nói cảnh vật hiện lên ở khổ cuối là cảnh vật cô đọng nhất nhưng cũng hàm chứa nhiều ý nghĩa nhất. Tầng tầng lớp lớp những áng mây chồng chất lên nhau như chất chứa cả nỗi niềm ẩn khuất của nhà thơ. Động từ “đùn” diễn tả trạng thái hoạt động tràn đầy sức sống, ánh sáng chiếu vào lấp lánh như màu bạc. Cả bài thơ chỉ có mỗi dòng này le lói sự sống tươi mới, rực rỡ. Nhưng ngay câu thơ sau lại lên cảnh khác trái ngược hẳn: bóng chiều buông xuống đè nặng lên cánh chim bé nhỏ, lạc lõng giữa bầu trời rộng thênh thang. Dường như có nét gì tương đồng với những lớp mây dày trên kia, cánh chim có thể hiểu như hình tượng ám chỉ những thân phận chơ vơ giữ dòng xoáy cuộc đời, mà nhà thơ là một trong số đó. Trách nhiệm, bổn phận và những nỗi lo âu như bóng chiều của ngày tàn khiến cho cánh chim mỏng mảnh như chao nghiêng vì sức mạnh. Dầu là những dựu cảm mù mịt về tương lai nhưng ít ra nó cũng gợi cho nhà thơ mối liên hệ với cuộc đời dường như chỉ chứa đựng toàn mâu thuẫn kia. Cũng vì vậy, nó cho ta chiếc chìa khóa khám phá sự thật đang diễn ra trong lòng nhà thơ: tấm lòng yêu nước kín đáo. Chẳng vậy, dầu đang đứng ngay trên mảnh đất quê hương mình, mà tác giả vẫn nhớ thương quê nhà, có lẽ là một khung cảnh bình yên trong quá khứ. Vì chưng giờ đây dấu chân giặc đã giày xéo trên mồ mả cha ông, tấm lòng nào còn trọn vẹn thủy chung thì chỉ còn biết giữ cho mình một nỗi nhớ thương. Cái nỗi niềm “ dợn dợn” ấy của thi sĩ mới thật tinh nhạy và đáng quý biết bao. Kết thúc bài thơ nhưng dư âm cứ mở ra mãi bởi làn “khói hoàng hôn” không có thật, mà trong lòng người lại thấy hiện lên thật cái cảm giác đau buồn, nhung nhớ. Câu trả lời đến đây mới sáng rõ, cái tôi tưởng như muốn xa lánh cuộc đời ấy lại là một cái tôi khao khát gắn bó với đời biết bao nhiêu. Huy Cận thi sĩ thật khéo léo khi cất giấu cái tình tràn đầy của mình vào nỗi sầu câm lặng, triền miên vô bến.
Có đọc hết những bài thơ khác trong tập Lửa thiêng của Huy Cận mới thấu rõ cái buồn ấy không phải là nhất thời. Trong phong trào Thơ Mới, người là thi sĩ ôm nỗi buồn nhiều nhất: sầu thương, sầu nhớ, sầu đau. Với người thời gian kéo dài tới “vạn kỷ”, “ngàn xưa”, cái thời gian của quá khứ để ghi dấu cho những tình cảm bất biến, vĩnh hằng. Thế nhưng, hiện tại vẫn cứ phơi bày, càng trốn tránh thi sĩ càng vấp váp sự đời, tình đời. Cho nên cái buồn của người là buồn thiên cổ, luông thường trực đến não nề. Bất cứ khi nào hồn buồn của người va chạm với cảnh vật, thì tình lại tuôn trào:
Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn.”
Người lắng nghe tiếng nước nhỏ giọt trên mái nhà, từng tiếng một rơi chậm rãi, nặng nề mà liên tưởng đến ngay trời xanh kia cũng chung một nỗi niềm u ám, thì quả là người dễ mẫn cảm với nỗi sầu. Câu thơ như kéo chùng xuống bởi điệp từ hai lần xuất hiện, nhân đôi tình người chất chứa bên trong. Bao giờ ta cũng thấy thiên nhiên trong thơ người tự đã mang vẻ hiu hắt, lặng thầm, như ấp ủ điều gì trước cả con người. Đó là bởi nét bút tài hoa của thi sĩ, người luôn tạo dựng, kết hợp chúng với nhau theo phong cách của riêng mình, bày tỏ hộ tấm lòng người.Dẫu rằng cái tôi buồn, cô đơn, yếu đuối và nghạo nghễ là cái dấu vết mà bất kì nhà Thơ Mới nào cũng từng hằn lên thơ mình, nhưng với Huy Cận thì rõ ràng, cái buồn được thiên vị hơn, ưu ái hơn.Đến nỗi chẳng cần phân bua, giải thích gì, thi sĩ cũng được người đời gán cho phong độ buồn… đến não nuột. Lắm khi thấy người buồn vô cớ nhưng tâm thì vẫn cứ bất động, không để lộ một cử chỉ gì quá khích ,dù là một cái nhíu mày, một nét mặt chán nản. Thay vào đó là những ánh nhìn khắc khoải hơn, có nhìn sâu vào trong mới phát hiện được. Ấy vậy mà đôi lúc không kìm nén được người đã thảng thốt bật ra lời ai oán đầy chua xót của mình:
Đặt câu hỏi hòng vơi lấp nhưng thi sĩ che sao nỗi yếu đuối đang bóp thắt con tim người. Tự vấn hay để thấy đời bi lụy đến chừng nào? Một thi sĩ khéo giấu tâm sự tâm sự riêng như Huy Cận mà cũng có lúc bi quan đến thế. Bởi lẽ, nỗi thương cảm của nhà thơ với đồng loại dường như vô nghĩa với riêng người khi ngoài kia vẫn tiếp tục những số phận khổ đau, yếu ớt chống cự với cuộc đời. Tâm sự đó khiến cho một buổi chiều vô hình trở thành hữu hình, có thân phận nhưng là thân phận thiệt thòi: mồ côi. Trong con mắt thi sĩ, cái nghĩa lí của cuộc đời đã băng giá, vì tình người cũng thiếu vắng, lạnh lùng như tiết trời giá rét kia. Lại một lần nữa, ta thấy cảnh “đìu hiu” xuất hiện trong thơ Huy Cận. Nhưng giờ đây nó lại ghi dấu chiêm nghiệm cay đắng của tác giả, dù chỉ rất mờ ảo. Người đã khám phá ra qui luật phai tàn của cuộc đời. Một ngày kia, “màu đá cũ” sẽ bị khuất lấp mất giữa muôn trùng cơn bão cát thời gian. Đâu đấy, người ta dễ liên tưởng đến cái ngắn ngủi của kiếp người, đột ngột tan biến mất.Phải chăng Huy Cận buồn vì lẽ đó?r Đúng nhưng vẫn chưa đủ, cái mà người thật sự sợ không phải là cái chết mà là sự lãng quên.Vì thế sự phai tàn tong mắt người là mất đi ý nghĩa đối với người khác trong đời. Sợi dây mỏng manh duy nhất níu kéo thi sĩ trở về chính là ân tình còn vương vấn ở đời. Vì chưng không phải hết thảy thực tại đầu là điều xấu xa, bạc bẽo mà vẫn còn xót lại những tâm hồn dạt dào mãi cô liêu như người. Đó là đôi phút hiếm hoi, người tìm thấy nét đáng yêu đời ban tặng : tình yêu trong sáng, thánh thiện:
Huy Cận khi yêu cũng rụt rè, e thẹn như ai. Những rung động đầu đời khiến cho người tình thi sĩ trở nên rực rỡ, đẹp lộng lẫy hơn bao giờ hết. Màu áo trắng trong như tình em. Mỗi bước đi của em tỏa hương thơm ngát, dịu dàng mà gieo vào lòng anh bao xuyến xao. Ai có ngờ được “ chàng Huy Cận khi xưa hay buồn lắm” lại tươi trẻ thế trong tình yêu. Cái vẻ ông cụ non, già đời biến đâu mất. Chỉ còn Huy Cận hết lòng với tình yêu, yêu chân thành, nâng niu từng giây phút. Không rạo rực băn khoăn như bạn thơ Xuân Diệu , mà tình Huy Cận đằm thắm, e ấp. Người không đòi hỏi được ôm trọn tình yêu mà chỉ lặng thầm yêu bởi . Người sợ rồi tình yêu sẽ không bền vững, nên càng tha thiết thì càng đau đớn lúc vỡ tan. Ngay cả khi còn yêu, người cũng thấy vời vợi nỗi xa cách, cắt chia:
“Tương tư đôi chốn, tình ngàn dặm
Thế nhưng vẫn không sao tránh khỏi bùi ngùi, xót xa khi đối mặt với sự thật phũ phàng:
Những lời thơ tưởng như rất bình thường, thản nhiên nhưng lại ẩn chứa nhiều đau thương nhức nhối nhất. Chẳng cần khóc lóc, kêu gào thảm thiết mà có những vết thương cắt sâu hơn nữa, quặn thắt, nuốt ngược nỗi đau vào bên trong. Có thể đã chạm phải quá nhiều tổn thương ở cuộc đời mà người khiến lòng mình như tĩnh lặng bằng nỗi sầu miên man. Kì thực là để đau thương không còn dậy sóng. Nhưng sao trách được cái hồn đầy yêu thương của người, thi thoảng gợn dậy mối đồng cảm sâu xa.
Có thể nói, giải mã hết những bí ẩn của hồn thơ Huy Cận quả là điều không dễ dàng chút nào. Nhưng ít nhất, đọc người , ta cũng hiểu được mình và đời hơn. Thơ người thấp thoáng phong vị Đường thi trong những đường nét cổ điển mềm mại, uyển chuyển nhưng cũng tiếp thu cái mới trong hình thức câu chữ, cấu tứ phóng khoáng, tự do của thi ca hiện đại. Cái tôi của người vừa ẩn vừa hiện, vừa như tan ra mênh mang khắp cảnh vật. Bên cạnh những hình ảnh quen thuộc của ca dao, thơ xưa,thi sĩ còn sáng tạo ra những hình tượng mới mẻ, sự kết hợp mới lạ: chiếc áo trắng tượng trưng cho tình yêu đầu, nắng xuống- trời lên,… Tất cả kết tinh lại trong nỗi sầu nhiều màu nhiều vẻ làm nên hồn thơ khó quên của thi s Huy Cận. Êm đềm, dịu dàng mà ám ảnh mãi bởi những tâm tư sâu kín bên trong.
Với Lửa Thiêng, Huy Cận đã đóng góp cho thơ Mới một viên ngọc quý, đêm bầu bạn cùng những tâm hồn đang rơi vào tuyệt vọng, bế tắc lúc bấy giờ. Để nhận ra rằng ta cô đơn nhưng không mình ta giữa cuộc đời này, mà có bao hồn khác cũng ước mơ yêu thương như ta. Dẫu rằng có phần tiêu cực, yếm thế nhưng Thơ Mới nói chung, thơ Huy Cận nói riêng đều là tiếng nói tha thiết của người con dân tộc, đau nỗi đau quê hương.Bởi vậy vai trò tiền đề đối với nền thơ ca Cách mạng sau này là không thể phủ nhận, góp phần làm phong phú,dồi dào hơn cho dòng chảy văn học Việt Nam.
Thứ Năm, 20 tháng 1, 2011
Đề thi HSG Quốc gia 2009, 2010
ĐỀ THI HSG QUỐC GIA môn Ngữ Văn NĂM 2009
Câu 1 (8,0 điểm):
Suy nghĩ của anh/chị về cái danh và cái thực của con người trong cuộc sống.
Câu 2 (12,0 điểm):
Thơ nữ viết về tình yêu thường thể hiện sâu sắc bản lĩnh và ý thức về hạnh phúc của chính người phụ nữ.
Hãy phân tích, so sánh bài thơ "Tự tình" (bài II) của Hồ Xuân Hương và "Sóng" của Xuân Quỳnh để làm rõ nét chung và nét riêng trong tâm sự tình yêu của hai nữ tác giả ở hai thời đại khác nhau.
Tự tình
(Bài II)
Hồ Xuân Hương
Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non
Chén rượu hương đưa, say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế, khuyết chưa tròn
Xuyên ngang mặt đất, rêu từng đám
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Mảnh tình san sẻ tí con con.
(Theo Ngữ Văn 11, Nâng cao, Tập Một, NXB Giáo dục, 2007, tr.44)
Sóng
Xuân Quỳnh
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể
Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ
Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển lớn
Từ nơi nào sóng lên?
Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu?
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau
Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức
Dẫu xuôi về phương bắc
Dẫu ngược về phương nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh – một phương
Ở ngoài kia đại dương
Trăm ngàn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở
Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa
Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ.
Biển Diêm Điền, 29-12-1967
(Theo Ngữ Văn 12, Nâng cao, Tập Một, NXB Giáo dục, 2008, tr.122-124)
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KÌ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA
LỚP 12 THPT NĂM 2010
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
Môn: VĂN
Thời gian: 180 phút (không kể thời gian giao đề)
Ngày thi: 11/3/2010
(Đề thi có 01 trang, gồm 2 câu)
Câu 1 (8 điểm)
Trong những trang ghi chép cuối cùng của đời mình, nhà văn Nguyễn Minh Châu có kể lại một sự việc ông đã chứng kiến:
‘…lúc bấy giờ mới khoảng năm giờ sáng. Sân ga Hàng Cỏ còn mờ mờ tỏ tỏ trong sương nhưng người đã chật ních. Có những dãy người xếp hàng ba hàng tư dài dằng dặc, như rồng rắn. Người nào cũng khoác đầy hành lý trên mình, đang chuẩn bị vào phía trong ga để lên tàu. Chung quanh cái dây người xếp hàng là bạt ngàn những người đang ngồi giữa hàng đống, hàng núi hàng hóa, có lẽ lần đầu tiên tôi chứng kiến một buổi sáng tinh mơ mà khách đi tàu ở sân ga đông đến như thế. Và giữa cảnh đông đúc, chen chúc như vậy có một người đàn bà hãy còn trẻ, y như một kẻ mất trí, một người điên, cứ hét váng cả sân ga: “Các ông các bà có ai thương cứu tôi với”. Người đàn bà kêu đến khản cả giọng mà chung quanh chẳng ai đoái hoài. Người ta chỉ quay mặt lại nhìn một cách thờ ơ, vả lại ai cũng chất xung quanh mình hàng đống hành lý, lại mệt đứt hơi, ai cũng chỉ đủ sức lo cho mình.
Thì ra thế này: người đàn bà xuống tàu trong đêm với hai đứa con, đứa ba tuổi, đứa mới nửa tuổi. Mẹ con ngồi chờ sáng. Lúc trời vừa tảng sáng, mẹ bảo con ngồi đây trông em, mẹ đi giặt tã cho em một lúc. Người mẹ đi đến vòi nước gần nhà xí công cộng, cũng khá xa, chen chúc mới giặt giũ được, giặt xong quay về thì mẹ mìn chỉ chìa cái bánh đa đã dỗ được đứa con lớn đi theo, chỉ còn đứa nhỏ nửa tuổi nằm giữa sân ga một mình.
Nghe xong chuyện tôi chạy đến trước mặt một đồng chí công an, đề nghị: các đồng chí nói loa đi, yêu cầu hành khách thấy ai khả nghi thì giữ lại, đứa dụ đứa trẻ thế nào cũng có vẻ khả nghi…Biết đâu nó còn quanh quẩn quanh đây. Yêu cầu mọi người giúp người ta. Đồng chí công an chẳng nói chẳng rằng, chẳng trả lời tôi lấy một lời. Còn hàng ngàn con người thì vẫn dửng dưng trong một vẻ ngái ngủ hoặc sợ mất cắp. Người đàn bà vẫn kêu gào giữa sân ga Hàng Cỏ như kêu gào giữa sa mạc”.
(Rút từ tập Trang giấy trước đèn, NXB Khoa học Xã hội, 1994, tr.140-141)
Câu chuyện trên gợi anh/chị suy nghĩ gì về lòng nhân ái và sự vô cảm của con người trong cuộc sống?
Câu 2 (12 điểm)
Tác phẩm văn học chân chính bao giờ cũng là sự tôn vinh con người qua những hình thức nghệ thuật độc đáo.
Bằng việc phân tích một tác phẩm đã học, anh/chị hãy bình luận nhận định trên.
……………………….HẾT……………………….
Câu 1 (8,0 điểm):
Suy nghĩ của anh/chị về cái danh và cái thực của con người trong cuộc sống.
Câu 2 (12,0 điểm):
Thơ nữ viết về tình yêu thường thể hiện sâu sắc bản lĩnh và ý thức về hạnh phúc của chính người phụ nữ.
Hãy phân tích, so sánh bài thơ "Tự tình" (bài II) của Hồ Xuân Hương và "Sóng" của Xuân Quỳnh để làm rõ nét chung và nét riêng trong tâm sự tình yêu của hai nữ tác giả ở hai thời đại khác nhau.
Tự tình
(Bài II)
Hồ Xuân Hương
Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non
Chén rượu hương đưa, say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế, khuyết chưa tròn
Xuyên ngang mặt đất, rêu từng đám
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Mảnh tình san sẻ tí con con.
(Theo Ngữ Văn 11, Nâng cao, Tập Một, NXB Giáo dục, 2007, tr.44)
Sóng
Xuân Quỳnh
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể
Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ
Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển lớn
Từ nơi nào sóng lên?
Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu?
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau
Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức
Dẫu xuôi về phương bắc
Dẫu ngược về phương nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh – một phương
Ở ngoài kia đại dương
Trăm ngàn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở
Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa
Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ.
Biển Diêm Điền, 29-12-1967
(Theo Ngữ Văn 12, Nâng cao, Tập Một, NXB Giáo dục, 2008, tr.122-124)
Thi HSG quốc gia 2010
LỚP 12 THPT NĂM 2010
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
Môn: VĂN
Thời gian: 180 phút (không kể thời gian giao đề)
Ngày thi: 11/3/2010
(Đề thi có 01 trang, gồm 2 câu)
Câu 1 (8 điểm)
Trong những trang ghi chép cuối cùng của đời mình, nhà văn Nguyễn Minh Châu có kể lại một sự việc ông đã chứng kiến:
‘…lúc bấy giờ mới khoảng năm giờ sáng. Sân ga Hàng Cỏ còn mờ mờ tỏ tỏ trong sương nhưng người đã chật ních. Có những dãy người xếp hàng ba hàng tư dài dằng dặc, như rồng rắn. Người nào cũng khoác đầy hành lý trên mình, đang chuẩn bị vào phía trong ga để lên tàu. Chung quanh cái dây người xếp hàng là bạt ngàn những người đang ngồi giữa hàng đống, hàng núi hàng hóa, có lẽ lần đầu tiên tôi chứng kiến một buổi sáng tinh mơ mà khách đi tàu ở sân ga đông đến như thế. Và giữa cảnh đông đúc, chen chúc như vậy có một người đàn bà hãy còn trẻ, y như một kẻ mất trí, một người điên, cứ hét váng cả sân ga: “Các ông các bà có ai thương cứu tôi với”. Người đàn bà kêu đến khản cả giọng mà chung quanh chẳng ai đoái hoài. Người ta chỉ quay mặt lại nhìn một cách thờ ơ, vả lại ai cũng chất xung quanh mình hàng đống hành lý, lại mệt đứt hơi, ai cũng chỉ đủ sức lo cho mình.
Thì ra thế này: người đàn bà xuống tàu trong đêm với hai đứa con, đứa ba tuổi, đứa mới nửa tuổi. Mẹ con ngồi chờ sáng. Lúc trời vừa tảng sáng, mẹ bảo con ngồi đây trông em, mẹ đi giặt tã cho em một lúc. Người mẹ đi đến vòi nước gần nhà xí công cộng, cũng khá xa, chen chúc mới giặt giũ được, giặt xong quay về thì mẹ mìn chỉ chìa cái bánh đa đã dỗ được đứa con lớn đi theo, chỉ còn đứa nhỏ nửa tuổi nằm giữa sân ga một mình.
Nghe xong chuyện tôi chạy đến trước mặt một đồng chí công an, đề nghị: các đồng chí nói loa đi, yêu cầu hành khách thấy ai khả nghi thì giữ lại, đứa dụ đứa trẻ thế nào cũng có vẻ khả nghi…Biết đâu nó còn quanh quẩn quanh đây. Yêu cầu mọi người giúp người ta. Đồng chí công an chẳng nói chẳng rằng, chẳng trả lời tôi lấy một lời. Còn hàng ngàn con người thì vẫn dửng dưng trong một vẻ ngái ngủ hoặc sợ mất cắp. Người đàn bà vẫn kêu gào giữa sân ga Hàng Cỏ như kêu gào giữa sa mạc”.
(Rút từ tập Trang giấy trước đèn, NXB Khoa học Xã hội, 1994, tr.140-141)
Câu chuyện trên gợi anh/chị suy nghĩ gì về lòng nhân ái và sự vô cảm của con người trong cuộc sống?
Câu 2 (12 điểm)
Tác phẩm văn học chân chính bao giờ cũng là sự tôn vinh con người qua những hình thức nghệ thuật độc đáo.
Bằng việc phân tích một tác phẩm đã học, anh/chị hãy bình luận nhận định trên.
……………………….HẾT……………………….
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)