CHÀO MỪNG

Chào mừng bạn đến với blog Học Văn của học sinh trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn Bình Định - Mọi thông tin liên hệ, đóng góp bài vở, xin gửi về vankhoa11@gmail.com hoặc liên hệ trực tiếp với lớp trưởng Chuyên Văn khoá 11 Đỗ Lê Bảo Duyên - LPHT Trần Thái Diễm Chi

Thứ Hai, 24 tháng 1, 2011

Tràng giang- Bài viết của Hồ Minh Tú

   “Ông không làm mê ta bằng màu sắc và âm điệu;ông có một sức quyến rũ lạ lùng hơn, khó hiểu hơn; là mùi thơm…;thơ ông không phải là rượu rót vào chén, thơ ông là men đương lên,…”- cái men thơ Huy Cận đã từng làm say ông hoàng thơ tình Xuân Diệu.Thi sĩ xuất hiện giữa làng thơ Việt Nam lúc ấy làm chếnh choáng bao tâm hồn khao khát đồng điệu. Huy Cận đã mang cái hương vị rất riêng của ông vào trong thơ, cái “hồn buồn Á Đông” man mác, mà thấm thía trong từng dòng chảy “Tràng Giang”.
     Người sinh ra trong thế kỉ đau buồn của dân tộc. Cũng như bao lớp người trẻ tuổi lúc đó, trước thực tại bế tắc, thi sĩ không khỏi hoang mang, mất niềm tin vào cuộc đời. Người đã trút mọi nỗi niềm vào thơ ca, nên mỗi tác phẩm đều là mỗi lời tâm tình tha thiết, từ đáy lòng vang ra, dội ngược vào trong đáy lòng- cái thế giới cô đơn đầy ám ảnh của ông. Có lẽ bởi đồng cảnh ngộ, tâm thế chung của các nhà thơ Mới đã thấm thía một cách đầy đủ trong ông nhưng không phải vì thế mà ông trở nên mờ nhạt , tiêu tan. Đã từng có một Xuân Diệu “sôi nổi, bồng bột”; một Chế Lan Viên “kì dị’’, một Hàn Mặc Tử “đau thương” đến điên cuồng, một Nguyễn Bính bình dị, chân quê,… làm rung chuyển nền móng thơ vốn cũ kỹ, sáo mòn trước kia, thay vào đó là những cảm xúc mới mẻ, tinh vi.        Huy Cận không là ai nhưng cái tôi trữ tình trong thơ ông có dấu ấn đậm nét đối với người đọc, mà nói như Hoài Thanh, đó là sức mạnh kì lạ của một tâm hồn “ảo não như Huy Cận”. Cùng một số bài thơ khác trong phong thơ Mới,Tràng Giang để lại ấn tượng khó phai  theo thời gian, tưởng chừng bây giờ vẫn còn nguyên vẹn cái hồn buồn não nề ấy, tha thiết gọi về.
    Xưa kia, trên bến Tràng Giang, bao li khách sắp sửa ra đi mà lòng không khỏi bồi hồi, xao xuyến bởi cảnh sông nước xa xăm kia gợi lại. Nay, đứng trên bến con sông Hồng quê nhà, không phải đi xa nhưng dường như Huy Cận cũng mang tâm trạng của li khách thuở
nào, mà nhớ thương, mà luyến tiếc một nỗi niềm không tên. Những tình cảm ấy dâng đầy trong ông, để tứ thơ cứ miên man chảy mãi:
                           “Sóng gợn Tràng Giang buồn điệp điệp,
                             Con thuyền xuôi mái nước song song,
                             Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
                             Củi một cành khô lạc mấy dòng.”
    Ngay từ khổ đầu đã thấy hiện lên những hình ảnh đầy u buồn. Dòng sông, con thuyền, cành củi khô quen thuộc trong cổ thi lại hiện về nhưng không thấy những ước lệ sóng đôi về con thuyền- bến nước,… như xưa. Thay vào đó là sự hiện hữu rời rạc của cảnh vật. Những con sóng không buồn nhấp nhô, hòa mình vào sông lớn mà cứ chậm rãi từng gợn nhẹ, từng gợn nhẹ, rồi biến mất trong dòng chảy mênh mông. Nhịp điệu buồn tẻ ấy cứ lặp đi lặp lại, “điệp điệp” , làm nỗi sầu như kéo dài thêm, triền miên, vô tận. Con thuyền cũng không buồn lái, để mặc xuôi theo dòng nước lặng lờ. Ngay cả dòng nước trong bản thân con sông cũng không thiết đến nhau, cứ âm thầm mà chảy ‘:song song”, vờ không quen biết nhau trong đời. Từ những hiện tượng tưởng như vô tri vô giác đó, Huy Cận đã khiến người đọc hình dung ra một thế giới có thật của sông nước với tình cảm dửng dưng như con người. Là bởi con mắt nhà thơ nhạy cảm quá, nên thấy đâu cũng một tình cảnh như mình. Không những vậy, đối với chia li, người lại có dự cảm tinh tế hơn. Người thấy trong dòng nước,mà ta có thể tạm liên tưởng đến dòng đời kia, sự cách biệt không thể nào tránh khỏi. Đến một lúc nào đó, trên cuộc hành trình của mình, chỉ còn nước mải miết trong cô độc. Vốn lòng sông đã rộng thênh thang, nay lại thêm dài ra, rộng ra bởi nỗi “sầu trăm ngả” của dòng nước. Trơ trọi lại càng thêm trơ trọi , rời rạc lại nối tiếp rời rạc, cành củi khô một mình lạc lõng giữa dòng chảy, không biết đi đâu về đâu gợi nỗi chua xót thân phận xiết bao! Không phải là một “bông hoa tím biếc” “mọc giữa dòng sông xanh”(Thanh Hải) mà là nhành củi khô ráo hoảnh sự sống, một nhành củi rỗng ruột, vô vọng. Nó thay lời tác giả với cuộc đời, như khúc ru buồn vẫn tiếp tục điệu nhạc réo rắt, thê lương của nó:
                                  “Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
                                    Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.
                                    Nắng xuống, trời lên sâu chót vót.
                                    Sông dài, trời rộng bến cô liêu.”
     Đến đây, bài thơ mới thấy xuất hiện những âm thanh đầu tiên. Nhưng trước hết phải nói đến khung cảnh nơi mà âm thanh đó được lắng nghe: trên cồn đất nhỏ, xung quanh không có một sự trỗi dậy nào to lớn hơn. Bốn bề không gian bát ngát với núi non hùng vĩ, sự tồn tại của gò đất càng thêm cô độc, lẻ loi . Sở dĩ ta có thể nhìn được toàn cảnh vậy là vì Huy Cận đã phát huy hết mọi giác quan của mình để đặc tả “cồn đất”,từ đó gợi lên sự rợn ngợp của không gian. Nhà thơ có lần bộc bạch rằng chữ “đìu hiu” là học được từ Chinh phụ ngâm: “Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò”. Đến Huy Cận, nó phảng phất nét cổ điển nhưng cũng mang cảm giác hắt hiu, đơn côi của cái tôi thi sĩ trước thời cuộc. Trạng thái “lơ thơ” cho thấy vẻ tiêu điều, xơ xác đã phủ trùm lên cảnh vật và chiếm lĩnh thế giới nội tâm nhà thơ. Ta thấy rất rõ cảm quan về không gian vũ trụ vô tận của tác giả, mà trong đó sự sống bé nhỏ càng thêm đơn độc hơn, như bị bỏ rơi giữa cuộc đời. Điều đó cắt nghĩa rằng, trong thế giới của riêng mình, Huy Cận không phải đã xóa sạch những dấu ấn của thơ xưa, mà vẫn giữ lại những nét đẹp, những nét thi vị để giãi bày tâm tư. Đặc biệt là thủ pháp “lấy động tả tĩnh” được thi sĩ đan cài khéo léo vào thơ mình, tạo cho cảnh vật nét gần gũi và đượm tình hơn . Ấy là “tiếng làng xa” vọng về, thứ âm thanh mơ hồ của một phiên chợ đã vãn theo gió lan xa mãi. Nhưng ở nơi “đâu” thì tác giả không xác định được. Những âm vang yếu ớt ấy rồi cũng chìm và cảnh chiều hư vô, càng gợi thêm sự vắng vẻ, hiu quạnh nơi đây. Không gian trở nên tịch mịch, u uất . Nó trái hẳn với tiếng “lao xao” thuở nào Nguyễn Trãi ẩn dật nơi thôn quê lắng nghe được. Nó mồ côi, trống vắng. Để lại trong lòng người đọc cảm giác rờn rợn khó hiểu. Có người cho rằng Huy Cận dễ buồn quá, lại đứng trong cảnh chiều buồn nên mới sinh ra những câu thơ âu sầu vậy. Nhưng tôi tin là tự trong lòng người đã chất chứa đầy nỗi buồn nên nó thấm vào cả từng cảnh vật, lan ra bao phủ khắp không gian. Mọi sự cũng buồn theo. Bởi vậy mà trong những hình hài tưởng như rất mới mẻ, vui tươi, người lại thấy nỗi buồn: “ Nắng xuống, trời lên sâu chót vót”. Thật vậy, nắng không ủ rũ, trời không ủ dột nhưng chính sự vận động của chúng tạo nên một khoảng cách không thể nào lấp đầy. Bình thường, đáng lẽ là chiều cao, cao vời vợi nhưng nhà thơ đã tài tình biến nó thành chiều sâu, sâu chót vót để chứa đựng nỗi sầu não vô biên của mình. Người lại thấy bến đợi của một mình mình, mất hút giữa cái rộng lớn khôn cùng của trời đất, mang tên cô liêu. Người cho ta đi mãi, đi mãi để rồi lại gặp người cô quạnh, và người tự bắt gặp mình… Nơi đó cảnh thật đẹp, nhưng buồn và lạnh lẽo quá, nên càng gặp mình thi sĩ lại càng run sợ và ớn lạnh hơn. Cuộc nói chuyện với lòng mình trong hoàn cảnh cô đơn chẳng khác nào dày vò tâm hồn thêm đau đớn. Nó trăn trở không ít lần trong Huy Cận, khiến cho nhiều bài thơ khác của người cũng mang dáng dấp của “Tràng Giang”, đẹp nhưng lạnh lẽo:
                                       “Ngập ngừng mép núi quanh co
                                 Lưng đèo quán dựng, mưa lò mái ngang.
                                          Vi vu gió hút nẻo vàng;
                                  Một trời thu rộng, mấy hàng mây nao.”
      Cảnh vật thiếu vắng tình người, không có một chút sự xuất hiện của con người. Bà Huyện Thanh quan trước kia chạnh lòng vì cảnh thung lũng hoang vắng, cũng còn nhận thấy sự hiện diện của con người dù là thưa thớt “Lom khom dưới núi tiều vài chú- Lác đác bên sông chợ mấy nhà”(Qua đèo Ngang). Còn với Huy Cận thì tuyệt nhiên chỉ có cảnh với cảnh, ngay cả cái “quán dựng” cũng chẳng hi vọng được thấy sự sống, dù chỉ là mong manh. Chỉ có những nét vẽ quanh co của tạo hóa, với gió, với mưa và bầu trời ăm ắp mây hòa quyện trong một bức tranh hữu tình. Nhưng cảnh đẹp chỉ để gió và thời gian bào mòn mà không có người thưởng thức thì liệu có còn ý nghĩa gì nữa? Phải chăng, Huy Cận đã mượn những nỗi buồn vẩn vơ đó để gửi tâm sự gì kín đáo sâu bên trong, mà một tâm hồn đầy phức tạp như ông không thể nào diễn tả hết bằng lời?
      Nhưng chưa dừng lại ở đó, cái tôi của thi sĩ còn đi sâu hơn nữa vào ngọn nguồn của sự cô đơn:
                                    “ Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;
                                       Mênh mông không một chuyến đò ngang.
                                       Không cầu gợi chút niềm thân mật,
                                       Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.”
     Những cánh bèo nối nhau trôi lênh đênh trên dòng chảy vô định. Không phải vô lí khi cho rằng nhà thơ có chút tủi hờn, oán trách số mệnh. Cũng như bèo kia, thân phận của những con người sinh ra phải chịu chung kiếp nô lệ của dân tộc mình, đất nước mình chẳng mong một tiền đồ tươi sáng. Đau khổ, nhục nhã nhưng bất lực trước thời cuộc rối ren, người trẻ tuổi dễ cảm thương những kiếp sống như mình, “bèo dạt mây trôi”. Huy Cận còn thấy sâu trong đó, cái toàn cảnh của cuộc đời: tất cả mối dây liên lạc đều bị cắt đứt, mọi sự liên hệ chỉ còn là ảo ảnh, quá khứ. Dòng sông rộng vô cùng nhưng không có lấy một con đò, một chiếc cầu để nối liền giữa hai bờ. Cho đến đây, bài thơ đã lần lượt dẫn dắt người đọc đến những khung cảnh đẹp nhưng càng về sau càng buồn, càng trống trải. Giả sử bài thơ đơn thuần chỉ vẽ nên những bức tranh như thế và chấm hết tại đây thì khó lòng gây được dư vị sâu sắc trong lòng người đọc. Khổ cuối cũng chính là khổ thơ hé mở cho người đọc biết điều gì thật sự ẩn sau trái tim đa sầu đa cảm ấy của nhà thơ:
                                    ‘ Lớp lớp mây cao đùn núi bạc’
                                      Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
                                      Lòng quê dợn dợn vời con nước,
                                      Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”
    Có thể nói cảnh vật hiện lên ở khổ cuối là cảnh vật cô đọng nhất nhưng cũng hàm chứa nhiều ý nghĩa nhất. Tầng tầng lớp lớp những áng mây chồng chất lên nhau như chất chứa cả nỗi niềm ẩn khuất của nhà thơ. Động từ “đùn” diễn tả trạng thái hoạt động tràn đầy sức sống, ánh sáng chiếu vào lấp lánh như màu bạc. Cả bài thơ chỉ có mỗi dòng này le lói sự sống tươi mới, rực rỡ. Nhưng ngay câu thơ sau lại lên cảnh khác trái ngược hẳn: bóng chiều buông xuống đè nặng lên cánh chim bé nhỏ, lạc lõng giữa bầu trời rộng thênh thang. Dường như có nét gì tương đồng với những lớp mây dày trên kia, cánh chim có thể hiểu như hình tượng ám chỉ những thân phận chơ vơ giữ dòng xoáy cuộc đời, mà nhà thơ là một trong số đó. Trách nhiệm, bổn phận và những nỗi lo âu như bóng chiều của ngày tàn khiến cho cánh chim mỏng mảnh như chao nghiêng vì sức mạnh. Dầu là những dựu cảm mù mịt về tương lai nhưng ít ra nó cũng gợi cho nhà thơ mối liên hệ với cuộc đời dường như chỉ chứa đựng toàn mâu thuẫn kia. Cũng vì vậy, nó cho ta chiếc chìa khóa khám phá sự thật đang diễn ra trong lòng nhà thơ: tấm lòng yêu nước kín đáo. Chẳng vậy, dầu đang đứng ngay trên mảnh đất quê hương mình, mà tác giả vẫn nhớ thương quê nhà, có lẽ là một khung cảnh bình yên trong quá khứ. Vì chưng giờ đây dấu chân giặc đã giày xéo trên mồ mả cha ông, tấm lòng nào còn trọn vẹn thủy chung thì chỉ còn biết giữ cho mình một nỗi nhớ thương. Cái nỗi niềm “ dợn dợn” ấy của thi sĩ mới thật tinh nhạy và đáng quý biết bao. Kết thúc bài thơ nhưng dư âm cứ mở ra mãi bởi làn “khói hoàng hôn” không có thật, mà trong lòng người lại thấy hiện lên thật cái cảm giác đau buồn, nhung nhớ. Câu trả lời đến đây mới sáng rõ, cái tôi tưởng như muốn xa lánh cuộc đời ấy lại là một cái tôi khao khát gắn bó với đời biết bao nhiêu. Huy Cận thi sĩ thật khéo léo khi cất giấu cái tình tràn đầy của mình vào nỗi sầu câm lặng, triền miên vô bến.
    Có đọc hết những bài thơ khác trong tập Lửa thiêng của Huy Cận mới thấu rõ cái buồn ấy không phải là nhất thời. Trong phong trào Thơ Mới, người là thi sĩ ôm nỗi buồn nhiều nhất: sầu thương, sầu nhớ, sầu đau. Với người thời gian kéo dài tới “vạn kỷ”, “ngàn xưa”, cái thời gian của quá khứ để ghi dấu cho những tình cảm bất biến, vĩnh hằng. Thế nhưng, hiện tại vẫn cứ phơi bày, càng trốn tránh thi sĩ càng vấp váp sự đời, tình đời. Cho nên cái buồn của người là buồn thiên cổ, luông thường trực đến não nề. Bất cứ khi nào hồn buồn của người va chạm với cảnh vật, thì tình lại tuôn trào:
                                   “ Tai nương nước giọt mái nhà,                    
                            Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn.”
                                                                            (Buồn đêm mưa)
   Người lắng nghe tiếng nước nhỏ giọt trên mái nhà, từng tiếng một rơi chậm rãi, nặng nề mà liên tưởng đến ngay trời xanh kia cũng chung một nỗi niềm u ám, thì quả là người dễ mẫn cảm với nỗi sầu. Câu thơ như kéo chùng xuống bởi điệp từ hai lần xuất hiện, nhân đôi tình người chất chứa bên trong. Bao giờ ta cũng thấy thiên nhiên trong thơ người tự đã mang vẻ hiu hắt, lặng thầm, như ấp ủ điều gì trước cả con người. Đó là bởi nét bút tài hoa của thi sĩ, người luôn tạo dựng, kết hợp chúng với nhau theo phong cách của riêng mình, bày tỏ hộ tấm lòng người.Dẫu rằng cái tôi buồn, cô đơn, yếu đuối và nghạo nghễ là cái dấu vết mà bất kì nhà Thơ Mới nào cũng từng hằn lên thơ mình, nhưng với Huy Cận thì rõ ràng, cái buồn được thiên vị hơn, ưu ái hơn.Đến nỗi chẳng cần phân bua, giải thích gì, thi sĩ cũng được người đời gán cho phong độ buồn… đến não nuột. Lắm khi thấy người buồn vô cớ nhưng tâm thì vẫn cứ bất động, không để lộ một cử chỉ gì quá khích ,dù là một cái nhíu mày, một nét mặt chán nản. Thay vào đó là những ánh nhìn khắc khoải hơn, có nhìn sâu vào trong mới phát hiện được. Ấy vậy mà đôi lúc không kìm nén được người đã thảng thốt bật ra lời ai oán đầy chua xót của mình:
                                      “Ai chết đó? Nhạc buồn chi lắm thế!
                                        Chiều mồ côi đời rét mướt ngoài đường
                                        Phố đìu hiu màu đá cũ lên sương’
                                        Sương hay chính bụi phai tàn lả tả.”
                                                                                    (Nhạc sầu)
     Đặt câu hỏi hòng vơi lấp nhưng thi sĩ che sao nỗi yếu đuối đang bóp thắt con tim người. Tự vấn hay để thấy đời bi lụy đến chừng nào? Một thi sĩ khéo giấu tâm sự tâm sự riêng như Huy Cận mà cũng có lúc bi quan đến thế. Bởi lẽ, nỗi thương cảm của nhà thơ với đồng loại dường như vô nghĩa với riêng người khi ngoài kia vẫn tiếp tục những số phận khổ đau, yếu ớt chống cự với cuộc đời. Tâm sự đó khiến cho một buổi chiều vô hình trở thành hữu hình, có thân phận nhưng là thân phận thiệt thòi: mồ côi. Trong con mắt thi sĩ, cái nghĩa lí của cuộc đời đã băng giá, vì tình người cũng thiếu vắng, lạnh lùng như tiết trời giá rét kia. Lại một lần nữa, ta thấy cảnh “đìu hiu” xuất hiện trong thơ Huy Cận. Nhưng giờ đây nó lại ghi dấu chiêm nghiệm cay đắng của tác giả, dù chỉ rất mờ ảo. Người đã khám phá ra qui luật phai tàn của cuộc đời. Một ngày kia, “màu đá cũ” sẽ bị khuất lấp mất giữa muôn trùng cơn bão cát thời gian. Đâu đấy, người ta dễ liên tưởng đến cái ngắn ngủi của kiếp người, đột ngột tan biến mất.Phải chăng Huy Cận buồn vì lẽ đó?r Đúng nhưng vẫn chưa đủ, cái mà người thật sự sợ không phải là cái chết mà là sự lãng quên.Vì thế sự phai tàn tong mắt người là mất đi ý nghĩa đối với người khác trong đời. Sợi dây mỏng manh duy nhất níu kéo thi sĩ trở về chính là ân tình còn vương vấn ở đời. Vì chưng không phải hết thảy thực tại đầu là điều xấu xa, bạc bẽo mà vẫn còn xót lại những tâm hồn dạt dào mãi cô liêu như người. Đó là đôi phút hiếm hoi, người tìm thấy nét đáng yêu đời ban tặng : tình yêu trong sáng, thánh thiện:
                                      “Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong
                                        Hôm xưa em đến mắt như lòng.
                                        Nở bừng ánh sáng.Em đi đến
                                        Gót ngọc dồn hương, bước tỏa hồng.”
                                                                                    (Áo trắng)
    Huy Cận khi yêu cũng rụt rè, e  thẹn như ai. Những rung động đầu đời khiến cho người tình thi sĩ trở nên rực rỡ, đẹp lộng lẫy hơn bao giờ hết. Màu áo trắng trong như tình em. Mỗi bước đi của em tỏa hương thơm ngát, dịu dàng mà gieo vào lòng anh bao xuyến xao. Ai có ngờ được “ chàng Huy Cận khi xưa hay buồn lắm” lại tươi trẻ thế trong tình yêu. Cái vẻ ông cụ non, già đời biến đâu mất. Chỉ còn Huy Cận hết lòng với tình yêu, yêu chân thành, nâng niu từng giây phút. Không rạo rực băn khoăn như bạn thơ Xuân Diệu , mà tình Huy Cận đằm thắm, e ấp. Người không đòi hỏi được ôm trọn tình yêu mà chỉ lặng thầm yêu bởi . Người sợ rồi tình yêu sẽ không bền vững, nên càng tha thiết thì càng đau đớn lúc vỡ tan. Ngay cả khi còn yêu, người cũng thấy vời vợi nỗi xa cách, cắt chia:
                                    “Tương tư đôi chốn, tình ngàn dặm
                                       Vạn lí sầu lên núi tiếp mây”
                                                                        (Vạn lí tình)
    Thế nhưng vẫn không sao tránh khỏi bùi ngùi, xót xa khi đối mặt với sự thật phũ phàng:
                                    “ Chân hết đường thì lòng cũng hết yêu.”
                                                                        (Đi giữa đường thơm)
    Những lời thơ tưởng như rất bình thường, thản nhiên nhưng lại ẩn chứa nhiều đau thương nhức nhối nhất. Chẳng cần khóc lóc, kêu gào thảm thiết mà có những vết thương cắt sâu hơn nữa, quặn thắt, nuốt ngược nỗi đau vào bên trong. Có thể đã chạm phải quá nhiều tổn thương ở cuộc đời mà người khiến lòng mình như tĩnh lặng bằng nỗi sầu miên man. Kì thực là để đau thương không còn dậy sóng. Nhưng sao trách được cái hồn đầy yêu thương của người, thi thoảng gợn dậy mối đồng cảm sâu xa.
    Có thể nói, giải mã hết những bí ẩn của hồn thơ Huy Cận quả là điều không dễ dàng chút nào. Nhưng ít nhất, đọc người , ta cũng hiểu được mình và đời hơn. Thơ người thấp thoáng phong vị Đường thi trong những đường nét cổ điển mềm mại, uyển chuyển nhưng cũng tiếp thu cái mới trong hình thức câu chữ, cấu tứ phóng khoáng, tự do của thi ca hiện đại. Cái tôi của người vừa ẩn vừa hiện, vừa như tan ra mênh mang khắp cảnh vật. Bên cạnh những hình ảnh quen thuộc của ca dao, thơ xưa,thi sĩ còn sáng tạo ra những hình tượng mới mẻ, sự kết hợp mới lạ: chiếc áo trắng tượng trưng cho tình yêu đầu, nắng xuống- trời lên,… Tất cả kết tinh lại trong nỗi sầu nhiều màu nhiều vẻ làm nên hồn thơ khó quên của thi s Huy Cận. Êm đềm, dịu dàng mà ám ảnh mãi bởi những tâm tư sâu kín bên trong.
    Với Lửa Thiêng, Huy Cận đã đóng góp cho thơ Mới một viên ngọc quý, đêm bầu bạn cùng những tâm hồn đang rơi vào tuyệt vọng, bế tắc lúc bấy giờ. Để nhận ra rằng ta cô đơn nhưng không mình ta giữa cuộc đời này, mà có bao hồn khác cũng ước mơ yêu thương như ta. Dẫu rằng có phần tiêu cực, yếm thế nhưng Thơ Mới nói chung, thơ Huy Cận nói riêng đều là tiếng nói tha thiết của người con dân tộc, đau nỗi đau quê hương.Bởi vậy vai trò tiền đề đối với nền thơ ca Cách mạng sau này là không thể phủ nhận, góp phần làm phong phú,dồi dào hơn cho dòng chảy văn học Việt Nam.

Thứ Năm, 20 tháng 1, 2011

Đề thi HSG Quốc gia 2009, 2010

ĐỀ THI HSG QUỐC GIA môn Ngữ Văn NĂM 2009


Câu 1 (8,0 điểm):

Suy nghĩ của anh/chị về cái danh và cái thực của con người trong cuộc sống.


Câu 2 (12,0 điểm):

Thơ nữ viết về tình yêu thường thể hiện sâu sắc bản lĩnh và ý thức về hạnh phúc của chính người phụ nữ.

Hãy phân tích, so sánh bài thơ "Tự tình" (bài II) của Hồ Xuân Hương và "Sóng" của Xuân Quỳnh để làm rõ nét chung và nét riêng trong tâm sự tình yêu của hai nữ tác giả ở hai thời đại khác nhau.


Tự tình
(Bài II)

Hồ Xuân Hương

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non
Chén rượu hương đưa, say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế, khuyết chưa tròn
Xuyên ngang mặt đất, rêu từng đám
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Mảnh tình san sẻ tí con con.

(Theo Ngữ Văn 11, Nâng cao, Tập Một, NXB Giáo dục, 2007, tr.44)


Sóng

Xuân Quỳnh

Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể

Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ

Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển lớn
Từ nơi nào sóng lên?

Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu?
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau

Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức

Dẫu xuôi về phương bắc
Dẫu ngược về phương nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh – một phương

Ở ngoài kia đại dương
Trăm ngàn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở

Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa

Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ.

Biển Diêm Điền, 29-12-1967

(Theo Ngữ Văn 12, Nâng cao, Tập Một, NXB Giáo dục, 2008, tr.122-124)

Thi HSG quốc gia 2010

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KÌ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA

LỚP 12 THPT NĂM 2010

ĐỀ THI CHÍNH THỨC

Môn: VĂN

Thời gian: 180 phút (không kể thời gian giao đề)

Ngày thi: 11/3/2010

(Đề thi có 01 trang, gồm 2 câu)


Câu 1 (8 điểm)

Trong những trang ghi chép cuối cùng của đời mình, nhà văn Nguyễn Minh Châu có kể lại một sự việc ông đã chứng kiến:

‘…lúc bấy giờ mới khoảng năm giờ sáng. Sân ga Hàng Cỏ còn mờ mờ tỏ tỏ trong sương nhưng người đã chật ních. Có những dãy người xếp hàng ba hàng tư dài dằng dặc, như rồng rắn. Người nào cũng khoác đầy hành lý trên mình, đang chuẩn bị vào phía trong ga để lên tàu. Chung quanh cái dây người xếp hàng là bạt ngàn những người đang ngồi giữa hàng đống, hàng núi hàng hóa, có lẽ lần đầu tiên tôi chứng kiến một buổi sáng tinh mơ mà khách đi tàu ở sân ga đông đến như thế. Và giữa cảnh đông đúc, chen chúc như vậy có một người đàn bà hãy còn trẻ, y như một kẻ mất trí, một người điên, cứ hét váng cả sân ga: “Các ông các bà có ai thương cứu tôi với”. Người đàn bà kêu đến khản cả giọng mà chung quanh chẳng ai đoái hoài. Người ta chỉ quay mặt lại nhìn một cách thờ ơ, vả lại ai cũng chất xung quanh mình hàng đống hành lý, lại mệt đứt hơi, ai cũng chỉ đủ sức lo cho mình.

Thì ra thế này: người đàn bà xuống tàu trong đêm với hai đứa con, đứa ba tuổi, đứa mới nửa tuổi. Mẹ con ngồi chờ sáng. Lúc trời vừa tảng sáng, mẹ bảo con ngồi đây trông em, mẹ đi giặt tã cho em một lúc. Người mẹ đi đến vòi nước gần nhà xí công cộng, cũng khá xa, chen chúc mới giặt giũ được, giặt xong quay về thì mẹ mìn chỉ chìa cái bánh đa đã dỗ được đứa con lớn đi theo, chỉ còn đứa nhỏ nửa tuổi nằm giữa sân ga một mình.

Nghe xong chuyện tôi chạy đến trước mặt một đồng chí công an, đề nghị: các đồng chí nói loa đi, yêu cầu hành khách thấy ai khả nghi thì giữ lại, đứa dụ đứa trẻ thế nào cũng có vẻ khả nghi…Biết đâu nó còn quanh quẩn quanh đây. Yêu cầu mọi người giúp người ta. Đồng chí công an chẳng nói chẳng rằng, chẳng trả lời tôi lấy một lời. Còn hàng ngàn con người thì vẫn dửng dưng trong một vẻ ngái ngủ hoặc sợ mất cắp. Người đàn bà vẫn kêu gào giữa sân ga Hàng Cỏ như kêu gào giữa sa mạc”.

(Rút từ tập Trang giấy trước đèn, NXB Khoa học Xã hội, 1994, tr.140-141)


Câu chuyện trên gợi anh/chị suy nghĩ gì về lòng nhân ái và sự vô cảm của con người trong cuộc sống?


Câu 2 (12 điểm)

Tác phẩm văn học chân chính bao giờ cũng là sự tôn vinh con người qua những hình thức nghệ thuật độc đáo.

Bằng việc phân tích một tác phẩm đã học, anh/chị hãy bình luận nhận định trên.



……………………….HẾT……………………….

ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA môn Ngữ Văn NĂM 2007

ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA NĂM 2007


Câu 1 (8,0 điểm)

Trong việc nhận thức, F. Ăng-ghen có phương châm: “Thà phải tìm hiểu sự thật suốt đêm còn hơn nghi ngờ nó suốt đời”, C. Mác thì thích câu châm ngôn: “Hoài nghi tất cả”.

Anh/Chị hiểu thế nào về những ý tưởng trên?


Câu 2 (6,0 điểm)

Có ý kiến cho rằng khi tác phẩm kết thúc, ấy là lúc cuộc sống của nó mới thực sự bắt đầu.

Anh/Chị hãy bình luận ý kiến đó.


Câu 3 (6,0 điểm)

Cảm nhận của anh/chị về đoạn văn sau đây trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam:

“Chuyến tàu đêm nay không đông như mọi khi, thưa vắng người và hình như kém sáng hơn. Nhưng họ ở Hà Nội về! Liên lặng theo mơ tưởng. Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo. Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua. Một thế giới khác hẳn, đối với Liên, khác hẳn các vầng sáng ngọn đèn của chị Tí và ánh lửa của bác Siêu. Đêm tối vẫn bao bọc chung quanh, đêm của đất quê, và ngoài kia, đồng ruộng mênh mang và yên lặng.”

(Sách Văn học 11, Tập một, Nxb Giáo dục Hà Nội, 2002, tr.160)

Hướng dẫn chấm thi


Câu 1 (8,0 điểm)

Đối với câu này, thí sinh có quyền tự do lựa chọn thể loại để trình bày cách hiểu của mình. Tuy nhiên, cần phải đạt được hai nội dung căn bản sau đây :

1. Giải thích (4,0 điểm)

Câu của Ăngghen : Thà phải tìm hiểu sự thật suốt đêm còn hơn phải nghi ngờ nó suốt đời.

Ý căn bản : đối với con người, thà vất vả tìm hiểu trong một thời gian ngắn (suốt đêm) để có được một nhận thức rõ ràng, khai thông được tư tưởng cho mình về một vấn đề nào đó, còn hơn là cứ để nó tồn đọng như một việc chưa được giải quyết, khiến cho mối nghi ngờ về nó luôn đè nặng mình trong thời gian dài (suốt đời).

Câu C.Mác thích : Hoài nghi tất cả.

Ý căn bản : cần phải tỉnh táo khi tiếp nhận mọi điều, chớ thụ động, cả tin vào những gì mà chính mình chưa suy xét, kiểm chứng.


2. Bình luận (4,0 điểm)

Thí sinh cần thấy mỗi ý tưởng ấy đều hợp lí. Bề ngoài chúng có vẻ mâu thuẫn nhau, nhưng bên trong lại thống nhất. Mỗi câu nhấn mạnh vào một khía cạnh của vấn đề nhận thức, các khía cạnh ấy bổ sung cho nhau.

a. Câu của Ăngghen:

- Sự thật là những chân lý khách quan. “Tìm hiểu sự thật” là mục đích quan trọng đối với việc nhận thức. Nếu không nắm được sự thật thì sẽ gây khúc mắc và ngờ vực, nghi hoặc. Nghi ngờ là một trạng thái tinh thần tiêu cực bất lợi đối với đời sống.

- Phương châm của Ăngghen là đúng đắn. “Thà mất công tìm hiểu sự thật suốt đêm” là giải pháp tích cực. Còn để trạng thái nghi ngờ đè nặng mình suốt đời là tiêu cực. Mất công trước mắt mà có được lợi ích lâu dài vẫn luôn là lựa chọn khôn ngoan của con người nói chung, của việc tìm hiểu khoa học nói riêng.

b. Câu C.Mác thích:

- Cần phân biệt hoài nghi khoa học và thói đa nghi. Hoài nghi khoa học là phẩm chất tích cực. Nó là thái độ tỉnh táo, cẩn trọng trong tìm hiểu và tiếp nhận. Còn đa nghi là một căn bệnh tiêu cực. Nó khiến người ta không tin vào bất cứ điều gì.

- “Hoài nghi” ở đây là theo nghĩa tích cực. Trong cuộc sống cũng như trong tìm hiểu khoa học, luôn có thái độ hoài nghi như thế là điều cần thiết. Nó giúp con người có được sự cẩn trọng và chắc chắn trong hiểu biết, tránh được những hồ đồ, cả tin dễ dẫn tới sai lạc, lầm lẫn. Châm ngôn C.Mác thích cũng là một ý tưởng đúng đắn.

c. Sự bổ sung:

- Câu C. Mác thích thì nhấn mạnh vào sự cần thiết của thái độ hoài nghi khoa học như một tiền đề gợi cảm hứng cho con người tìm kiếm sự thật.

- Còn câu của Ăngghen thì nhấn mạnh vào việc tích cực dấn thân tìm kiếm sự thật để hoá giải mối nghi ngờ.

- Cả hai đều là những phương châm đúng đắn và cần thiết đối với việc nhận thức của con người.


Câu 2 (6,0 điểm)

Thí sinh có thể trình bày theo những cách khác nhau, nhưng phải đạt được một số yêu cầu sau:

1. Giải thích (2,0 điểm)

Thí sinh cần phải xác định ý kiến này thực chất là đề cập đến vấn đề tiếp nhận văn học. Nó đề cao vai trò của chủ thể tiếp nhận là người đọc. “Khi tác phẩm kết thúc” là khi tác giả hoàn tất và khi người đọc đã đọc xong tác phẩm ; “ấy là lúc cuộc sống của nó mới thực sự bắt đầu” nghĩa là, lúc bấy giờ tác phẩm mới thực sự sống đời sống của nó trong tâm trí người đọc, tác phẩm mới thực sự nhập vào đời sống thông qua người đọc.

2. Bình luận (2,0 điểm)

- Khẳng định đây là một ý kiến đúng đắn. Nó đã chỉ ra được mối liên hệ thực tế giữa nghệ thuật và đời sống, giữa sáng tạo và tiếp nhận. Nó đề cập được vấn đề cốt lõi của vòng đời tác phẩm. Nó nhấn mạnh vai trò của người đọc tri âm và là người đồng sáng tạo, người quyết định đến đời sống thực sự của tác phẩm nghệ thuật.

- Khẳng định đây là một ý kiến súc tích, chứa đựng những ý tưởng sắc sảo với hình thức diễn đạt gây ấn tượng.

3. Chứng minh (2,0 điểm)

Để làm sáng tỏ và tăng tính thuyết phục cho việc giải thích và bình luận của mình, thí sinh cần phải minh hoạ bằng các tác phẩm văn học mà mình nắm vững.


Câu 3 (6,0 điểm)

Thí sinh được tự do trong việc cảm nhận. Có thể cảm nhận về toàn thể, có thể về một khía cạnh nào đó của đoạn văn cũng được. Tuy nhiên, dù cảm nhận theo hướng nào cũng không được thoát ly văn bản.

1. Dưới đây là một số đặc sắc căn bản của đoạn văn mà thí sinh có thể cảm nhận :

- Vẻ đẹp của tâm hồn nhân vật Liên. Một tâm hồn trong trẻo vừa mẫn cảm đối với ngoại giới vừa giàu mơ ước về một cuộc sống tươi vui tràn đầy âm thanh và ánh sáng. Nó hiện ra trong những cảm nhận tinh tế, những quan sát tinh vi và một nỗi niềm kín đáo đầy ắp buồn nhớ và mơ tưởng.

- Vẻ đẹp của văn chương Thạch Lam. Ngôn ngữ giàu chất thơ, giọng điệu tâm tình đầy thương cảm, chi tiết và hình tượng nghệ thuật bình dị giàu sức gợi, bút pháp tương phản nhuần nhị. Qua đó, có thể thấy một tấm lòng trắc ẩn mênh mông mà thấm thía dành cho những con người nhỏ bé trong cuộc sống nhọc nhằn ở những miền đời bị quên lãng.

2. Đây là dạng đề tương đối mở. Thí sinh không nhất thiết phải đề cập tất cả những đặc sắc của đoạn văn. Để cho điểm thích hợp, giám khảo cần căn cứ vào tình hình cụ thể và chất lượng cụ thể của từng bài.

Lưu ý chung:

- Chấp nhận cả những cách làm bài khác với đáp án của thí sinh, nhưng phải được trình bày có lí lẽ và căn cứ.
- Cần trừ điểm đối với những lỗi về diễn đạt, hành văn, ngữ pháp, chính tả.
- Cần khuyến khích những sáng tạo của thí sinh cả về nội dung lẫn hình thức.

Thứ Năm, 13 tháng 1, 2011

Suy ngẫm từ Ông già và Biển cả (Hemingway)


Luận đề: “Con người có thể bị hủy diệt nhưng không thể bị khuất phục” (Hemingway)
Ý kiến của Hemingway đề cao giá trị của con người trong mối quan hệ với tự nhiên, xã hội và với bản thân mình.
Giải thích ý kiến của Heming way:
Con người: trước hết là hiểu ở phạm vi cá nhân, cá thể, nhưng cần hiểu rộng hơn là loài người, con người trong cộng đồng trong nghĩa chung nhất, bao quát loài giống, gắn với bản chất Người theo nghĩa bao trùm nhất của nó.
Con người có thể bị đánh bại: nguyên văn tiếng Anh (destroyed) khi dịch ra còn có nghĩa là “bị hủy diệt”, “bị tàn phá” – cách nói thể hiện sự ý thức về những khả năng rủi ro có thể xảy đến với con người.
“…nhưng không thể bị khuất phục” : dịch sát nghĩa là bị đánh bại, bị chinh phục.
Mối quan hệ giữa hai vế: nhấn mạnh vào ý chí niềm tin của con người trong cuộc đấu tranh sinh tồn, khẳng định niềm kiêu hãnh của con người chân chính luôn tin tưởng vào khả năng của chính mình. Không những thế còn nhấn mạnh tinh thần con người vươn lên trong hành động, chinh phục những mục tiêu, vượt lên những thử thách.
Chứng minh ý kiến của Hemingway:
Con người trong công cuộc chinh phục và cải tạo tự nhiên: từ xưa đến nay, thiên nhiên chứa đựng sức mạnh ghê gớm, mỗi khi thiên tai, một quốc gia, một cộng đồng có thể bị những hậu quả nặng nề nhưng rất nhanh chóng con người lại bắt tay khắc phục thiên tai, ổn định cuộc sống, phát triển xã hội. Từ buổi đầu lấy sức người chống lại thiên nhiên, đến nay chúng ta có những thành tựu lớn lao nhờ khoa học kỹ thuật, từng bước cải tạo thiên nhiên và bắt thiên nhiên phải khuất phục con người. Ngu công đào núi, Dã Tràng lấp bể là ước muốn và cũng là niềm tin vượt lên chính mình của những người giàu ý chí nghị lực và quyết tâm hành động. Một bờ đê sông Hồng là sức mạnh của con người hợp quần để chế ngự sức nước hung hãn. là niềm tự hào của con người bao thế hệ. Một công trình thủy điện sông Đà là kết quả lao động vất vả cả chân tay lẫn trí óc của con người, biến sức nước thành dòng điện. Rõ ràng con người từ chỗ khiếp sợ trước tự nhiên đã trở nên mạnh mẽ can đảm hơn, nắm bắt quy luật tự nhiên, bắt thiên nhiên phải khuất phục trước con người.
Trong đấu tranh xã hội, các lực lượng chính nghĩa, những con người đại diện cái tốt, cái đẹp không ít lần bị thất bại. Con người chân chính nhiều khi bị kẻ tiểu nhân hãm hại, để lại nỗi niềm chua xót “anh hùng uống hận”, “để hận mấy ngàn năm” còn lưu trong bao áng văn thơ. Tuy nhiên theo một quy luật tất yếu và niềm tin mãnh liệt vào công lý, sự thật sẽ chiến thắng bạo tàn, giả trá giúp con người tìm ra những cách đấu tranh, những phương pháp để thành công. Phan Bội Châu từng nhắn nhủ “Tay ba lần gãy, mới biết thuốc tiên…xưa nay anh hùng, từng thua mới được!”. Không gì mạnh bằng ý chí con người, bên cạnh đó còn đòi hỏi sự tỉnh táo khôn khéo, kiên quyết để đạt mục đích.
Xét từ góc độ cá nhân, cũng có rất nhiều tấm gương con người vươn lên trong cuộc sống, vượt qua những khiếm khuyết của bản thân: Nguyễn Ngọc Ký - thầy giáo; Nguyễn Ngọc Hưng – nhà thơ hội viên hội nhà văn Việt Nam; Lê Thanh Thúy – cô gái 19 tuổi bị ung thư nhưng vẫn kịp góp mặt cho đời nụ cười rạng rỡ của một tấm lòng nhân hậu; là Nguyễn Hồng Kông - bệnh nhân suy thận nhưng đã tận dụng quỹ thời gian ít ỏi của mình để viết cuốn sách “Khát vọng sống để yêu” và “Ở trọ”, tích cực giúp đỡ những người cùng cảnh ngộ, những đồng loại kém may mắn. Những con người ấy bị hủy diệt bởi định mệnh khắc nghiệt nhưng đã khẳng định ý nghĩa cao quý của sự sống con người, sống có ý nghĩa bằng tất cả nghị lực và bản lĩnh của mình
Phản đề: Con người có thể bị đánh bại, cũng không ít kẻ tự mình khuất phục quỳ gối trước các thế lực. Tuy nhiên, làm con người chân chính thì không bao giờ tự đánh mất mình. Những kẻ như vậy đã chết ngay khi còn sống! Từ đó cho thấy để làm một con người theo đúng nghĩa Hemingway đề cập không phải là điều đơn giản! Ngay cả cái chết có thể chấm dứt thời gian tồn tại giữa cuộc đời của một cá nhân, nhưng không thể khuất phục ý chí vươn lên sống có ích với đời, để lại sự nghiệp bất tử. Những con người như thế sẽ sống mãi!
Trong sự phát triển của nhân loại, bao giờ con người cũng có ý thức rất lớn về giá trị bản thân, các nhà tư tưởng cũng như các nhà văn có nhiều câu nói hay về giá trị con người. Blasé Pascal nói : “Con người là một cây sậy, nhưng là một cây sậy biết suy nghĩ”, M.Gorki ca ngợi con người: “Con người! Tiếng ấy tự hào biết bao!”. Sự tồn tại của con người ở thế gian này và những thành quả từ xã hội loài người đã hình thành ý thức đề cao phẩm chất, giá trị làm người cao quý.
Trong bối cảnh phát triển đầy xung đột phức tạp, con người phải luôn đương đầu với thử thách khó khăn và không ít lần phải đối mặt với thất bại, bi kịch. Đương đầu với những khó khăn, con người chúng ta càng có dịp khẳng định bản lĩnh và rút ra kinh nghiệm, vượt lên chính mình. Ông cha ta ngàn đời trước đã phải chinh phục thiên nhiên và đã thêu dệt thành bao huyền thoại về chiến công kỳ vĩ này như Sơn tinh chiến thắng Thuỷ tinh, những vị thần kỳ vĩ là sản phẩm của chính con người, nâng tầm vóc con người ngang tầm thiên nhiên. Mỗi một khó khăn trở lực lại là một lần giúp con người chúng ta nhận ra những khiếm khuyết sai lầm để tiếp tục hành trình chinh phục đầy thử thách. Nhà thơ Hoàng Trung Thông từng khẳng định “Bàn tay ta làm nên tất cả - Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”. Có nghĩa là con người luôn tự tin vào chính bản thân mình sẽ không bao giờ biết đầu hàng trước hoàn cảnh.
Từ những việc lớn đến việc nhỏ đều cần đến ý chí và nghị lực phi thường của con người, điều quan trọng chính là con người cần phải biết tự lượng sức mình, tự điều chỉnh mình. Có một lúc nào đó chúng ta vấp phải sai lầm và thất bại, nhưng đó chỉ là tạm thời, bởi lẽ nếu chúng ta quyết tâm hành động và nắm bắt được thời cơ, chuẩn bị đầy đủ chín muồi thì sẽ chắc chắn thành công,
Theo tôi, muốn khẳng định tinh thần trong câu nói của nhà văn Hemingway cần phải hội đủ những yếu tố cần cho một con người, để có thể sống giữa đời mà không hổ  thẹn: ý thức bản thân, có tinh thần luôn vươn lên trong đời sống, mài sắc bản lĩnh và khả năng hành động và nỗ lực hết mình để đạt ước mơ. Trau dồi càng nhiều vốn sống, kinh nghiệm sống, không ngừng tự nâng cao hoàn thiện bản thân, không bao giờ cho phép chủ quan tự mãn sau thắng lợi, thành công nhất thời, bởi đơn giản “kẻ thù của thành công là thành công”. Sức mạnh con người không chỉ ở bản thân người ấy mà còn nhân lên với sức mạnh của cả cộng đồng người. Trong cuộc đấu tranh khẳng định giá trị đời sống, con người không bao giờ đơn độc và luôn làm được những điều phi thường ngay trong cuộc đời  bình thường.
Từ ông lão Santiago trong câu chuyện Ông già và Biển cả của nhà văn, một triết lý sâu xa về con người bình thường ở giữa thế gian, ý kiến của Hemingway là đúc kết chân lý về con người, khẳng định tư thế hào hiệp và can đảm của con người giữa thế gian. Con người có thể bị hủy diệt nhưng không thể bị đánh bại!
                                                                                    TRẦN HÀ NAM

Hỏi chuyện nhà thơ Thanh Thảo về thi phẩm “Đàn ghi-ta của Lorca”

20:46', 3/10/ 2008 (GMT+7)- Báo Bình Định

Bài thơ “Đàn ghi-ta của Lorca” của nhà thơ Thanh Thảo lần đầu được đưa vào giảng dạy trong chương trình Ngữ văn lớp 12. Bài thơ hay và hiện đại, nhưng lại không dễ hiểu. Chúng tôi đã có cuộc gặp và trò chuyện với nhà thơ Thanh Thảo về bài thơ này.
* Thơ Thanh Thảo “dành mối quan tâm đặc biệt cho những con người sống có nghĩa khí, nhân cách ngời sáng dù số phận có thể ngang trái...” (sách Ngữ văn 12 nâng cao). Nhưng bên cạnh vấn đề chung ấy, điều gì đã thôi thúc, để ông viết nên bài thơ “Đàn ghi-ta của Lorca”?
- Thực ra, dù tôi có những mối quan tâm như sách giáo khoa nâng cao nói, thì khi viết một bài thơ cụ thể, như bài  “Đàn ghi-ta của Lorca”, mối quan tâm chính của tôi chỉ là một hình ảnh gợi mở, một âm hưởng hay một nhịp điệu mơ hồ nào từ đâu đó, chứ tuyệt nhiên không có một “vấn đề” nào cả! Anh hỏi tôi có gửi lời tri âm hay ký thác nào vào bài thơ ấy không, tôi xin trả lời rất thật là tôi không biết. Khi làm thơ thì chỉ từ ngữ gọi từ ngữ, nhịp điệu đẩy đưa nhịp điệu.
Dĩ nhiên, Lorca là một nhà thơ mà tôi hết sức ngưỡng mộ, cả về thi ca lẫn cuộc đời và cái chết của ông đều gây cho tôi nhiều xúc cảm và ấn tượng. Chính những hình ảnh và nhạc điệu trong nhiều bài thơ Lorca đã dẫn dắt tôi khi viết bài thơ “Đàn ghi-ta của Lorca” mà tôi coi như một khúc tưởng niệm ông.
* Nhà thơ Pháp Verlaine nói “Thơ trước hết là nhạc”. Đọc “Đàn ghi-ta của Lorca”, tôi có cảm giác như được nghe một bài hát ca ngợi cái chết bi tráng và sự bất tử của Lorca do một nghệ sĩ hát rong đang ôm đàn ghi-ta biểu diễn. Ông có thể nói rõ thêm về tính nhạc của thi phẩm này?
- Tôi rất sợ bài thơ của mình được liên tưởng với hình ảnh một ca sĩ (hay hát rong) ôm đàn ghi-ta hát vang lên trong nhà hát hay giữa phố đông người. Đúng như Verlaine nói, thơ trước hết là nhạc, nhưng đó là “nhạc của thơ” chứ không phải âm nhạc bảy nốt hay ngũ cung bát âm. Về nhạc tính trong bài thơ này thì như tôi đã nói, chính nhạc tính trong nhiều bài thơ Lorca đã dẫn dắt tôi khi viết bài thơ này. Và tôi muốn dùng lại một số hình ảnh (dĩ nhiên đã biến cải) cũng như mơ hồ một vài theme (đề tài) nhạc trong thơ Lorca khi viết bài này. Tôi nghĩ, ở mức độ nào đó, mình đã làm được điều mình muốn. Cũng như nhiều bài thơ ngắn khác của tôi, bài “Đàn ghi-ta của Lorca” được viết liền một mạch, trong một khoảng thời gian rất ngắn, sau khi ngồi chơi và đàm đạo về thơ Lorca với vài người bạn tâm đắc.
* “Những tiếng đàn bọt nước/ Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt/ li-la li-la li-la/ đi lang thang về miền đơn độc/ với vầng trăng chếnh choáng/ trên yên ngựa mỏi mòn”. Qua mấy dòng này, ông như đang “bắn những tia hồi quang” còn đọng lại trong ký ức về xứ sở Tây Ban Nha. Điều ấy có trùng hợp với ý nghĩ của ông không?
- Tôi chưa thật rõ lắm câu hỏi của anh. Có lẽ, theo tôi đoán, anh muốn biết tôi đã đưa một số hình ảnh được coi là “đặc trưng Tây Ban Nha” như “áo choàng đỏ gắt” hay “hát nghêu ngao”… vào thơ mình như thế nào? Thực ra, đúng như anh nói, đó là những hình ảnh về Tây Ban Nha đã lặn sâu vào tôi từ khi tôi đọc những tác phẩm của Hemingway - một nhà văn người Mỹ. Mãi cách đây mấy năm, tôi mới có dịp ghé qua Barcelona, trong khi bài thơ này đã viết cách đây ngót 30 năm, nên những hình ảnh Tây Ban Nha mà tôi có được đều qua sách vở. Cách biểu đạt này theo tôi cũng không mới mẻ gì, nhưng nó thích ứng trong bài thơ này, khi Lorca được coi là “con họa mi Tây Ban Nha”. Lorca có câu thơ tôi thuộc lòng từ 40 năm nay, qua bản dịch Hoàng Hưng: “Con ngựa đen/vầng trăng đỏ”, còn hoa lila (hoa lys, hoa huệ tây) thì không chỉ có ở Tây Ban Nha, nhưng dường như nó đã đi vào một tác phẩm nào đó viết về Tây Ban Nha mà tôi nhớ. Với lại, li-la còn gợi âm thanh như một cú “vê” ghi-ta, cây đàn mà người Việt mình hay gọi là “Tây Ban cầm”. Một không khí hơi mờ ảo, những hình ảnh lãng đãng… là những gì tôi có được về xứ sở Andalusia mà tôi cảm nhận qua thơ Lorca và tôi đã cố gắng đưa vào bài thơ mình. May mà nó lại… được.
* Trong bài có nhiều hình ảnh gợi cảm “tiếng đàn bọt nước”, “vầng trăng chếnh choáng”, “yên ngựa mỏi mòn”... Những hình dung từ này có vai trò gì trong thể hiện chủ đề của bài thơ, thưa ông?
- Thực ra, tôi dùng những “hình dung từ” ấy một cách tình cờ thôi, hoàn toàn không cố ý. Tôi vẫn làm thơ như vậy, không cố ý, không “mài giũa ngôn từ”. Những liên hệ (nếu có) giữa các tổ hợp từ ấy trong bài thơ đều gắn một cách vô thức với số phận Lorca. Những “chếnh choáng”, “mỏi mòn”, “bọt nước” dường như có gần xa ám ảnh cuộc đời Lorca, chúng ám cả vào thi ca của ông. Ai nghĩ, “bọt nước” sẽ biến mất không để lại dấu vết là nhầm. Bọt nước lúc hiện lúc tan, nhưng tan rồi lại hiện. Nó mỏng manh nhưng không thể bị tiêu diệt. Thơ cũng vậy. Thơ Lorca càng vậy.
* Xin cảm ơn nhà thơ.
  • Cát Văn (Thực hiện)

Về Chữ người tử tù

Đề luyện tập: Quan niệm về cái Đẹp của Nguyễn Tuân trong truyện ngắn Chữ người tử tù.
BÀI VIẾT THAM KHẢO:
Nguyễn Tuân (1910 – 1987) cả một đời văn đi tìm cái Đẹp. Nhưng khác với Thạch Lam, tâm hồn ông hướng về vớ i những nét toàn thiện toàn mĩ , vượt lên khỏi giới hạn của cái bình thường, luôn nhìn nhận thế giới và con người ở phương diện thẩm mĩ – văn hoá.
Vang bóng một thời như là một điểm xuất phát của quan điểm nghệ thuật mang dấu ấn cá tính con người tài hoa tài tử Nguyễn Tuân. Mười một truyện ngắn dựng lên những chân dung đặc sắc khó quên của một thời quá vãng, tiêu biểu cho khuynh hướng thoát li của Nguyễn Tuân trước cách mạng : những thú chơi tao nhã, những con người của quá khứ xa xăm, thực ra là một cách cắt nghĩa cho tấm lòng của nhà văn vốn nặng tình cùng thời vàng son dĩ vãng. Nhưng ẩn chứa trong tập truyện là một tâm hồn dân tộc yêu tha thiết những giá trị đã trở thành truyền thống. Bên cạnh đó, tác phẩm còn là nơi gửi gắm tâm sự yêu nước, tâm trạng bất hoà của một người trí thức luôn cảm thấy bức bối trong khuôn đời chật hẹp. Cảm hứng đặc biệt mãnh liệt của Nguyễn Tuân gắn với những nhân vật đối lập với trật tự khuôn phép phong kiến, thể hiện tập trung trong truyện ngắn Chữ người tử tù, giúp ta hiểu sự chân thành sâu lắng của Nguyễn Tuân trong cái vỏ khác người kiêu bạc.
Tác phẩm là câu chuyện xoay quanh nét chữ của Huấn Cao – người tử tù bất khuất. Xung quanh trục chính của câu chuyện là những nhân vật thầy thơ lại, viên quản ngục và Huấn Cao. Họ vốn là kẻ thù với nhau trong cuộc sống, nhưng lòng yêu cái Đẹp giúp họ tìm đến với nhau như những người bạn tâm giao.

Thứ Hai, 10 tháng 1, 2011

Cái đẹp trong văn Thạch Lam


Với nhà văn Thạch Lam (1910-1942), vẻ đẹp là một cái gì chỉ hiện ra mong manh thấp thoáng nên dễ bị bỏ qua. Ông viết: "Cái đẹp man mác khắp vũ trụ, len lỏi khắp hang cùng ngõ hẻm, tiềm tàng ở mọi vật tầm thường...". Cái đẹp trong văn Thạch Lam là cái đẹp cổ điển: đẹp và buồn.

Không phải nhà văn tiền chiến nào cũng thích nói đến cái đẹp. Đọc các truyện ngắn truyện dài của Nguyễn Công Hoan hay cả loạt phóng sự và tiểu thuyết phóng sự của Vũ Trọng Phụng, người ta thấy cái đẹp hầu như vắng mặt. Có vẻ nó giống như một thứ hàng xa xỉ, không dây dưa gì đến cuộc đời nhếch nhác này, và để được chân thành trong câu chuyện, tác giả ngầm bảo ta rằng, tốt hơn hết là không nên nhắc tới nó làm gì (!?)

ở một ngòi bút như Thạch Lam (cũng như ở Khái Hưng, Nguyễn Tuân, Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh...) thì tình hình hoàn toàn ngược lại. Từ những bài báo nhỏ đến những truyện ngắn cô đọng, viết văn với Thạch Lam đồng nghĩa với việc săn sóc tới cái đẹp, và nhắc nhở về sự có mặt của nó với mọi người. Ông nói tới vẻ đẹp trong thiên nhiên: buổi trưa vắng vẻ ở một làng quê hay ban mai yên ả ở một xóm nhỏ trung du (Dưới bóng hoàng lan, Nắng trong vườn). Ông nói tới vẻ đẹp hồn hậu trong xúc động đơn sơ của một thanh niên lần đầu làm cha, hoặc cái cảm giác lạ lùng của mấy em nhỏ trong một ngày chớm rét (Đứa con đầu lòng, Gió đầu mùa). Đối với những con người khiêm nhường mà cuộc sống bị đè nặng bởi những lo toan hàng ngày, Thạch Lam biết tìm ra những nét tính cách cao quý, nó là nhân tố làm cho người ta tồn tại và nhờ vậy, lại toát lên một vẻ đẹp riêng (Nhà mẹ Lê, Tối ba mươi). Một nét quán xuyến trong cách nhìn đời của Thạch Lam: tác giả luôn luôn mách thầm với chúng ta rằng vẻ đẹp là một cái gì chỉ hiện ra mong manh thấp thoáng nên dễ bị bỏ qua. Ông viết trong Theo dòng: "Cái đẹp man mác khắp vũ trụ, len lỏi khắp hang cùng ngõ hẻm, tiềm tàng ở mọi vật tầm thường. Công việc của nhà văn là phải hiểu cái đẹp chính ở chỗ mà không ai ngờ, tìm cái đẹp kín đáo bị che lấp trong sự vật, cho người khác một bài học trông nhìn và thưởng thức".

Quan niệm cổ điển và một thoáng gặp gỡ Đông - Tây

Năm 1940, khi Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân được in ra lần đầu, Thạch Lam sớm có bài giới thiệu quyển sách trên báo Ngày nay (số ra 15-6-1940). Bài báo đáng được lưu ý, không phải chỉ vì nó đã nói đúng về Nguyễn Tuân mà còn là một dịp để Thạch Lam tự bộc lộ. Chỉ trong khuôn khổ chưa đầy 1.000 chữ, ông đã năm lần nhắc tới cái đẹp và những từ ngữ ông dùng để đi kèm chính là những thuộc tính mà theo ông có liên quan tới cái đẹp chân chính. Đó là vẻ nên thơ, sự cao quý, cái có ý nghĩa, rồi cả sự khoáng đạt và một chút nồng nàn. Cũng có đến mấy lần ông nhắc lại hương vị cũ kỹ và nhẫn nại của một sự hy sinh, hoặc tâm tình yêu mến dĩ vãng, tiếc thương và muốn trở lại những vẻ đẹp đã qua.

Cũng từ đây, người ta đọc ra một quan niệm về cái đẹp mà tác giả Gió đầu mùa theo đuổi. Trưởng thành từ một cốt cách học trò, người viết văn này dễ rung động với những gì thấp thoáng, dịu nhẹ. Ông tỏ ra xa lạ với những vẻ đẹp chói chang, quyến rũ, hoặc là cái lối có gì mang bày hết cả ra ngoài, phô phang lộ liễu. Hình ảnh mà ông thích nhất là bông mai trong trắng. Trong sự kín đáo và ẩn nhẫn biết điều, vẻ đẹp ông hay nói tới thường hàm chứa một sức sống tiềm tàng. Một quan niệm như thế phải nói là có nhiều chất cổ điển. Giữa thế kỷ của văn minh công nghiệp trong cái thời mà máy móc và các mốt thời trang bắt đầu du nhập và ngày càng bành trướng trong xã hội, văn chương Thạch Lam có vẻ là một thứ dòng nước ngược đưa người ta trở lại với quan niệm về cái đẹp của phương Đông hoặc gần gũi hơn, trong cách hiểu về cái đẹp thường thấy ở ông cha ta. Vậy đâu là tác động của yếu tố thời đại đến ngòi bút này? Thực ra ở đây yếu tố thời đại vẫn có, nhưng cách ảnh hưởng của nó tới Thạch Lam lại có những nét đặc trưng riêng. Nên nhớ là giữa nền văn hóa Pháp được du nhập vào Việt Nam lúc ấy và văn hóa phương Đông cổ truyền không phải chỉ có khác biệt mà còn có nhiều nét chung. Văn hóa cổ điển Pháp cũng nổi tiếng vì sự trong sáng, sự tinh tế và tinh thần nhân bản. Thứ nữa khi tiếp nhận nền văn hóa này, lớp người như Khái Hưng, Thế Lữ, Huy Cận, Xuân Diệu hoặc Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân... đã đứng vững trên mảnh đất quê hương ruột thịt. Trong sách vở mà nhà trường dạy họ cũng như trong những quyển sách họ đọc ở ngoài đời có những lời lẽ khuyên họ phải biết trở về với cội nguồn dân tộc. Về phần mình, trong sáng tác văn chương, Thạch Lam sớm tự xác định cho mình một con đường riêng. Ông cho rằng, có một công việc mà một ngòi bút tự trọng nên đảm nhận, đó là làm sống lại cái đẹp, cái thực vốn là những tính cách cố hữu trong nền văn hóa cổ truyền. Người và cảnh ông miêu tả vì vậy thường có thêm chiều sâu trong thời gian. Cái đẹp được ông chắt chiu gạn lọc. Tuy không nói ra trực tiếp, nhưng từ những gì ông tha thiết, thấy toát lên một lời giáo huấn kín đáo: nếu không được trân trọng giữ gìn, cái đẹp vốn đã mong manh sẽ tan mất đi và chúng ta sẽ mãi mãi sống trong bơ vơ tiếc xót.

Nỗi buồn giấu kín

Nhưng có lẽ đặc tính đáng nhớ nhất của cái đẹp trong văn Thạch Lam ấy là nó thường được miêu tả với một nỗi buồn sâu xa. Cảm giác chính còn lại trong người đọc sau khi đọc nhiều trang sách, từ Gió đầu mùa đến Sợi tóc, là một cuộc đời mờ mờ xám xám. Hãy nhớ lại Cô hàng xén, thiên truyện bao quát gần hết cuộc đời của một con người. Những phiên chợ quê nhiều mầu sắc, thoáng qua rất nhanh, cùng với những năm tháng tuổi trẻ, ấp ủ nhiều hy vọng của người con gái chăm chỉ và giàu tình thương gia đình. Rồi cái khía cạnh người ta nhớ hơn cả khi nghĩ tới Tâm, ấy là con đường từ chợ về nhà vắng vẻ, cùng những lo âu đè nặng tâm hồn cô trong cuộc sống hàng ngày. Ngòi bút Thạch Lam thường tỏ ra có sự nhạy cảm lạ lùng với những gì đã an bài hoặc những nếp sống đã trở thành mòn mỏi. Một buổi tối phố huyện, nhà cửa như thiếp dần đi trong ánh sáng những ngọn đèn dầu leo lét. Những điệu hát xẩm vẳng lên trong một xóm nghèo. Mấy bức tranh dân gian mầu sắc đạm bạc. Cảnh tết sơ sài ở một xóm nhỏ ngoại thành... Thạch Lam bằng lòng chấp nhận cuộc sống như nó đang có, nhưng vẫn không thôi tự nhủ lẽ ra nó phải khác kia, làm sao nó lại chỉ như chúng ta đang thấy! Một cảm giác bao trùm còn lại: Đời đẹp và buồn. Và nhờ gắn với cái buồn, cái thực, mà vẻ đẹp trong văn Thạch Lam lại có được sự sống riêng. Nó trở nên bền chắc. Nó không lẫn đi giữa những vẻ đẹp nhạt nhèo mà những cây bút tầm thường mang ra để an ủi bạn đọc. Cái thuở thanh bình xa vắng tác giả Gió đầu mùa hay nói tới giờ đã qua đi từ lâu, song sống trong tấp nập ồn ào, các thế hệ đến sau vẫn có thể tìm thấy ở cái vẻ đẹp cổ điển mà Thạch Lam hay nói tới một sự đồng cảm. Cổ điển ở đây đồng nghĩa với sống mãi.

Vương Trí Nhàn

(Báo Thể thao và Văn hóa)