CHÀO MỪNG

Chào mừng bạn đến với blog Học Văn của học sinh trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn Bình Định - Mọi thông tin liên hệ, đóng góp bài vở, xin gửi về vankhoa11@gmail.com hoặc liên hệ trực tiếp với lớp trưởng Chuyên Văn khoá 11 Đỗ Lê Bảo Duyên - LPHT Trần Thái Diễm Chi

Thứ Bảy, 7 tháng 1, 2012

Danh dự và Nhân phẩm


1. Nhân phẩm và danh dự
Nhân phẩm và danh dự là hai phạm trù đạo đức học khác nhau nhưng lại có quan hệ quy định lẫn nhau. Nhân phẩm là giá trị làm người của mỗi cá nhân. Nhân phẩm không chỉ phụ thuộc vào mỗi cá nhân mà còn phụ thuộc vào quan niệm của từng xã hội, giai cấp khác nhau. Danh dự là kết quả của quá trình xây dựng và bảo vệ nhân phẩm của các cá nhân, vì lẽ đó, một con người có danh dự không chỉ biết giữ gìn nhân phẩm của bản thân mà còn phải biết làm cho nhân phẩm của mình được xã hội công nhận thông qua hoạt động cống hiến không mệt mỏi của cá nhân cho xã hội.
a. Nhân phẩm
Mỗi con người chúng ta luôn có những phẩm chất nhất định. Những phẩm chất này làm nên giá trị của cá nhân. Đó là nhân phẩm.
Vậy nhân phẩm là gì?
Nhân phẩm là toàn bộ những phẩm chất mà mỗi con người có được. Nói cách khác, nhân phẩm là giá trị làm người của mỗi con người.
Ngöôøi coù nhaân phaåm laø ngöôøi coù löông taâm, coù nhu caàu vaät chaát vaø tinh thaàn laønh maïnh, luoân thöïc hieân toát caùc nghóa vuï ñaïo ñöùc ñoái vôùi xaõ hoäi vaø ngöôøi khaùc, bieát toân troïng caùc quy taéc, chuaån möïc ñaïo ñöùc tieán boä.
Ngöôøi coù nhaân phaåm ñöôïc xaõ hoäi ñaùnh giaù cao vaø ñöôïc kính troïng. Ngöôøi thieáu nhaân phaåm hoaëc töï ñaùnh maát nhaân phaåm seõ bò xaõ hoäi ñaùnh giaù thaáp, bò coi thöôøng vaø khinh reû, bò toá caùo vaø leân aùn.
Trong cuoäc soáng, ña soá moïi ngöôøi ñeàu yù thöùc quan taâm giöõ gìn nhaân phaåm cuûa mình nhöng vaãn coù nhöõng keû coi thöôøng nhaân phaåm cuûa chính mình,cuûa ngöôøi khaùc, coù suy nghó vaø haønh vi ñi ngöôïc laïi vôùi lôïi ích cuûa coäng ñoàng
Ñeå trôû thaønh ngöôøi coù nhaân phaåm, con ngöôøi caàn phaûi
- Coù löông taâm trong saùng.
- Nhu caàu vaät chaát vaø tinh thaàn laønh maïnh.
- Thöïc hieän toát nghóa vuï ñaïo ñöùc.
- Thöïc hieän toát chuaån möïc ñaïo ñöùc.
- Toân troïng nhaân phaåm cuûa chính mình cuõng nhö cuûa moïi ngöôøi xung quanh.
b. Danh d
Danh dự là sự coi trọng, đánh giá cao của dư luận xã hội đối với một người dựa trên các giá trị tinh thần, đạo đức của người đó
Khi con người tạo ra được cho mình những giá trị tinh thần, đạo đức và những giá trị đó được xã hội đánh giá, công nhận thì người đó có danh dự
Danh dự có cơ sở từ những cống hiến thực tế của con người đối với xã hội, với người khác. Là con người, ai cũng đóng góp ít nhiều cho cuộc sống, cho xã hội, do đó, ai cũng có danh dự. Tuy nhiên, mỗi chúng ta phải luôn giữ gìn và bảo vệ danh dự của mình và tôn trọng danh dự của người khác. Khi chúng ta biết giữ gìn danh dự của mình, của các cá nhân có được một sức mạnh tinh thần để làm điều tốt, hướng chúng ta đến điều thiện  và tránh xa các điều xấu.
Nhaân phaåm vaø danh döï laø hai pham truø ñaïo ñöùc khaùc nhau nhöng laïi coù quan heä laãn nhau. Nhaân phaåm laø giaù trò laøm ngöôøi, coøn danh döï laø keát quaû cuûa quaù trình xaây döïng vaø baûo veä nhaân phaåm.
Moãi con ngöôøi coù danh döï khoâng chæ bieát giöõ gìn nhaân phaåm cuûa baûn thaân maø coøn phaûi bieát laøm nhaân phaåm cuûa mình ñöôïc xaõ hoäi coâng nhaän thoâng qua haønh ñoäng coáng hieán khoâng meät moûi caù nhaân cho xaõ hoäi.
Khi bieát giöõ gìn danh döï cuûa mình, caùc caù nhaân coù ñöôïc moät söùc maïnh tinh thaàn ñeå laøm ñieàu toát vaø khoâng laøm ñieàu xaáu. Ñoù chính laø yù nghóa quan troïng cuûa danh döï.
Tiền, bạc mất đi có thể tìm lại được nhưng một khi chúng ta đánh mất nhân phẩm và danh dự là mất đi phẩm chất và giá trị làm người. Đó là yếu tố tạo nên giá trị của một con người. Vì vậy, chúng ta hãy sống, học tập và làm việc cho thật tốt. Sống không có nghĩa là chỉ biết nghĩ cho mình, mà hãy vì người khác. Bỡi lẽ, chúng ta chỉ thật sự hạnh phúc khi biết đem lại niềm vui và hạnh phúc cho người khác. Đó mới là niềm vui là lẽ sống của cuộc đời.
NGUYỄN THỊ HOA

Thứ Năm, 29 tháng 12, 2011

ĐỒNG CẢM VÀ SẺ CHIA

  • NGUYỄN THỊ HOA -Gv Công Dân
Nhiều khi tôi tự hỏi: tại sao trên đời này lại còn nhiều bất công lắm vậy? Vẫn còn kẻ giàu, người nghèo. Trong xã hội vẫn còn chứa đựng nhiều sự bất công ngang trái. Có người sẵn sàng bỏ ra một số lượng tiền rất lớn để phục vụ cho một bữa tiệc xa xỉ hay mua một món đồ mà mình ưu thích trong khi đó món đồ đó chẳng giống ai. Thiết nghĩ rằng, ta có thể trích một phần nhỏ số tiền đó thôi để giúp đỡ những mảnh đời bất hạnh trong xã hội này thì có tốt hơn không. Trong khi đó khi đó trong cuộc sống này còn biết bao số phận khó khăn, bươn chải vì cuộc sống mưu sinh, lo cho ngày nay còn ngày mai như nhế nào vẫn còn là một ẩn số không lời đáp. cần sự chung tay, giúp sức của cộng đồng để giúp đỡ họ vượt qua nỗi đau đó. Có những cô gái, chàng trai quần áo bảo bao, đi xe hạng sang nhưng lại thờ ơ, la mắng một cụ già ăn xin bẩn thiểu hay một em nhỏ đánh giày trên phố. Trong cuộc sống xô bồ này, ai cũng lo miếng cơm, mạnh áo của riêng mình dường như chúng ta quên mất đi sự đồng cảm và sẻ chia tới những người xung quanh chúng ta nữa. Hay nếu có thì cũng chỉ là thoáng qua, pha lẫn chút thờ ơ, hối hả với những lời thăm hỏi cho có, hay những món quà mang nhiều giá trị vật chất để thay thế cho sự quan tâm, chăm sóc thông thường. Còn đâu rồi truyền thống “lá lành đùm lá rách”, tình làng, nghĩa xóm keo sơn, gắn bó “tối lửa, tắt đèn” có nhau nữa. Nhưng cuộc sống đâu chỉ cần những giá trị vật chất không thôi mà cần phải có sự cảm thong, chia sẻ với nhau kể cả trong buồn, vui lẫn niềm hạnh phúc. Đó nhiều khi chỉ là cái nắm tay an ủi ấm áp khi ai đó buồn, hụt hẫng, hay một lời an ủi đúng lúc để giúp người khác vượt qua sự khó khăn trong cuộc sống. Làm được như vậy ta mới thấy rõ giá trị cuộc sống nó có ý nghĩa như thế nào. Sống không chỉ để “nhận” từ người khác mà còn phải biết “cho” đi, nhưng khi ta “cho” đi không có nghĩa là mong “nhận” lại, mong người khác phải đền đáp công ơn của mình bời sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình, hạnh phúc là một điều rất kì diệu, ta chỉ nhận được nó khi đem nó trao cho người khác.
Sống mà không yêu thương, sống với trái tim còn nguyên vẹn khi cha mẹ cho ta khi mới bước vào đời, sống mà trái tim không thổ thức, không bị sắp vỡ nát thì chưa biết cuộc sống là gì vì đó là sự vô cảm. Những vết sẹo của trái tim, đó chính là những giá trị của cuộc đời. Cuộc sống sẽ chẳng có giá trị, nếu ai cũng chỉ biết tích góp cho mình mà không biết chia sẻ cho người khác. Cuộc đời sẽ mất hết ý nghĩa, nếu ai cũng lo bảo vệ trái tim của mình cho tròn, cho sáng, cho mạnh, cho bóng, nhưng lại không đưa sự sống, sức mạnh và niềm vui được đến người khác. Sự giàu sang của con người không phải ở chỗ thu tích thật nhiều cho mình, mà ở chỗ biết hào phóng cho đi. Sự giàu sang của tâm hồn càng không thể thiếu hy sinh. Bởi chính hy sinh mới làm nổi bật giá trị tình yêu, và làm rõ nét tình yêu.
Sự giàu có của một con người chưa phải là sự giàu có về tiền bạc mà sự giàu có về tâm hồn của một trái tim nhân đạo. Đó là có một trái tim đẹp. Cái đẹp ở đây không phải là đẹp về hình dáng, màu sắc mà là nét đẹp của lòng bao dung, sự cảm thông, sẻ chia với người khác khi họ cần và ngày đêm làm việc liên lỉ, không ngừng đập từng tiếng đập của hy vọng, của tin yêu và phó thác, để toàn thân được lan tỏa bằng từ tốn, nhân hậu, nhẫn nại, yêu thương và sẵn sàng hy sinh để sẻ chia với mọi người, mang lại ý nghĩa tốt đẹp và giá trị cho cuộc sống. Đó là trái tim đã đưa dòng máu tình yêu đến cho người khác. Đưa càng nhiều thì tim càng mệt, càng dễ bị tổn thương. Nhưng nhờ trái tim luôn đập lên tiếng nói của yêu yêu thương và tha thứ, của chân lý và sự sống, của sẻ chia và đỡ nâng, của thương cảm và khích lệ, của bao dung và từ bi, của hăng say và cộng tác, của trung thành và nhẫn nại, mà nhiều người được hưởng sự ấm áp, ngọt ngào, hạnh phúc, bình an từ từng nhịp đập của trái tim, từng tiếng gõ của tâm hồn.
Trong dòng chảy của cuộc đời không bao giờ trên con đường chúng ta đi chỉ con đường bằng phẳng rải đầy hoa hồng mà đôi lúc phải có sự chông gai, khó khăn để chúng ta vượt qua. Đó mới chính là giá trị sống của cuộc đời. Mỗi lần vấp ngã, khó khăn như vậy sẽ làm cho chúng ta thêm trưởng thành và có thêm nghị lực sống.
Cuộc đời con người cũng giống như bàn tay 5 ngón có ngón ngắn, ngón dài, có lúc này, lúc khác, người này, người khác. Nhưng chúng ta đừng khép trái tim mình lại mà hãy mở rộng tâm hồn, hãy làm tất cả những gì mà bạn có thể để cảm thông và sẻ chia với người khác bằng chính trái tim và lòng nhân ái của mình. Bỡi hạnh phúc là một điều rất kì diệu, ta chỉ nhận được nó khi đem nó trao cho người khác.
Sống, không phải là cứ bước đi không nhìn lại.

Nhưng nhìn lại, không phải để oán trách hay dằn vặt.
Sống là không hối tiếc những điều đã qua đi…
Không ai có thể quay trở lại và tạo ra một khởi đầu hoàn toàn mới

Nhưng bất cứ ai cũng có thể bắt đầu từ đây và tạo ra một kết thúc mới hoàn toàn

CHO VÀ NHẬN

  • NGUYỄN THỊ HOA - Gv Công dân
Trong dòng chảy vô tận của cuộc đời, ai cũng có riêng cho mình những kế hoạch, những dự định riêng, rồi những nỗi lo của cơm, áo, gạo, tiền… mà đôi lúc dường như con người chúng ta không còn có thời gian quan tâm tới những việc, những người xung quanh. Trong dòng đời vội vã đó nhiều người dường như đã quên đi tình nghĩa giữa người với người. Nhưng đã cuộc đời thì đâu phải chỉ trải đầy hoa hồng, đâu phải ai sinh ra cũng có được cuộc sống giàu sang, có được gia đình hạnh phúc toàn diện mà còn đó nhiều mảnh đời đau thương, bất hạnh cần chúng ta sẻ chia, giúp đỡ. Chúng ta đâu chỉ sống riêng cho mình, mà còn phải biết quan tâm tới những người khác, đó. Đó chính là sự “cho” và “nhận” trong cuộc đời này.
“Cho” và “nhận” là hai khái niệm tưởng chừng như đơn giản nhưng số người có thể cân bằng được nó lại chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Ai cũng có thể nói "Những ai biết yêu thương sẽ sống tốt đẹp hơn" hay "Đúng thế, cho đi là hạnh phúc hơn nhận về". Nhưng tự bản thân mình, ta đã làm được những gì ngoài lời nói ? Hơn nữa, khi bạn "cho" đi, bạn có đảm bảo rằng bạn không mong "nhận" về không? Hãy cố gắng sống vì sự tốt đẹp cho người khác bằng hành động chứ không chỉ bằng lời nói và với sự vô tư nhất có thể. Cho nên, giữa nói và làm lại là hai chuyện hoàn toàn khác nhau.
Bất cứ ai cũng đã có lần nghe câu nói "cho đi là hạnh phúc" nhưng thực hiện được điều đó chẳng dễ dàng gì. Hạnh phúc mà bạn nhận được khi cho đi chỉ thật sự đến khi bạn cho đi mà không nghĩ ngợi đến lợi ích của chính bản thân mình. Đâu phải ai cũng quên mình vì người khác. Nhưng xin đừng quá chú trọng đến cái tôi của chính bản thân mình. Xin hãy sống vì mọi người để cuộc sống không đơn điệu và để trái tim có những nhịp đập yêu thương.
“Cho” không có nghĩa là khi chúng ta có đầy đủ về vật chất mới có thể giúp đỡ người khác, mà đôi khi chỉ cần một lời hỏi han, một lời động viên đúng lúc để giúp người khác có thêm sức mạnh, niềm tin và nghị lực sống. Các bạn hãy làm một việc gì đó, có thể giúp đỡ một ai đó trong lúc túng quẫn, những xa cơ lỡ vận hay những lúc gặp khó khăn, bạn sẽ nhận được những niềm vui vượt lên cả sự mong đợi. Dù cho sự giúp đó là tiền bạc hay chỉ là một lời động viên an ủi. Bạn sẽ cảm nhận được niềm hạnh phúc tràn ngập từ trong sâu thẳm trái tim mình, hạnh phúc đó đang đến từ chính hành động đẹp đẽ của bạn. Đó là khi người khác gặp khó khăn, bạn luôn chìa tay ra giúp đỡ. Khi người khác có tâm sự, nỗi niềm, bạn luôn là người lắng nghe và luôn sẵn sàng sẻ chia. Khi người khác hạnh phúc, bạn hãy luôn mỉm cười, chung vui với người khác.
Không phải lúc nào “cho” cũng mang lại hạnh phúc cả. Một điều kỳ diệu xảy ra khi nó đúng lúc, đúng việc. “Cho” là không mong được “nhận” lại, không mong người khác sẽ trả ơn lại cho mình vì đã giúp đỡ họ. Thật vậy, nếu như ta đem niềm vui đến cho người khác có nghĩa là đã tạo được cho mình một niềm hạnh phúc. Chúng ta hãy sống hết mình với người khác đi, rồi bạn sẽ đón nhận rất nhiều niềm vui hạnh phúc từ nơi người khác. "Cho đi là hạnh phúc hơn nhận về".
Cuộc sống này có quá nhiều điều bất ngờ nhưng cái quan trọng nhất thực sự tồn tại là tình thương. Sống không chỉ la nhận mà còn phải biết cho đi. Chính lúc ta cho đi nhiều nhất lại là lúc ta được nhận lại nhiều nhất. Có ai đó đã từng nói "hạnh phúc là một cái rất kì lạ mà người ta chỉ nhận được khi đem nó cho người khác", mỗi người chúng ta hãy thử cho đi môt cái gì đó, để rồi biến niền hạnh của người khác thành niềm hạnh phúc của chính mình…
"Nếu là con chim, chiếc lá,
Thì con chim phải hót ,chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay mà không trả,
Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình"

Hạnh phúc là một điều rất kì diệu, ta chỉ nhận được nó khi đem nó trao cho người khác.
“Cho” và “nhận” cũng giống như cặp phạm trù “nhân”, “quả”, trong Triết học. Trên đời này luôn có luật “nhân”, “quả”, “gieo gió thì sẽ gặp bão”, nếu chúng ta biết yêu thương người thì cũng sẽ được yêu thương trở lại, khi chúng ta giúp người khác thì cũng chính là lúc cúng ta tự giúp mình. Khi chúng ta cho đi cũng chính là lúc chúng ta nhận lại, là lúc chúng ta tạo được những điều kỳ diệu nhất của cuộc sống.
Đã là con người thì cũng không ai hoàn thiện cả, vấn đề quan trọng là cúng ta biết sống như thế nào cho xứng đáng với nản chất thật sự của một con người, để không phải thổ thẹn với lương tâm của một con người. Cuộc sống của chúng ta cũng giống như những vết nứt của một chiếc bình, vì vậy chúng ta hãy biết tận dụng những vết nứt đó để cuộc sống của chúng ta có ý nghĩa hơn. Khi nào bạn làm được điều đó, thì cũng chính là lúc bạn nhận lại được niềm vui cho mình.
Ý nghĩa của cuộc sống  nằm ngay trong những giá trị  bình thường quanh ta, là tình yêu  của mẹ cha, là tình thân của bạn bè, là niềm vui và hạnh phúc  khi đối mặt và vượt qua khó khăn, là ước mơ và hi vọng vào ngày mai... Và điều gì nuôi dưỡng tâm hồn ta, xây đắp nên cuộc sống của chúng ta, thì ta cần, nên và phải sống vì chính những điều đó. Và đó chính là sự “cho” và “nhận” trong cuộc sống đấy các bạn à.

Thứ Ba, 22 tháng 11, 2011

MỘT SỐ ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ TÌNH YÊU

  • NGUYỄN THỊ HOA
(GV CÔNG DÂN)

Trong suốt lịch sử của nhân loại, tình yêu luôn là điều bí ẩn, là đề tài vô tận của văn chương và thơ ca. Nhà thơ Xuân Diệu đã ví von rằng “Yêu là chết trong lòng một ít”. Tình yêu là ngọn lửa, là ánh sáng, chân lý ẩn sâu trong chúng ta, là suối nguồn không bao giờ cạn. Vậy thực chất của tình yêu là gì?

a. Tình yêu là gì?

Tình yêu là một dạng tình cảm đặc biệt của con người, xuất hiện ở cả nam lẫn nữa khi đến tuổi trưởng thành. Trong thực tế, biểu hiện của tình yêu rất đa dạng và phong phú. Mỗi mối tình có một biểu hiện, sắc thái riêng. Do đó tình yêu là vấn đề luôn được mọi người quan tâm, là đề tài muôn thuở của nhân loại.

Tình yêu là sự rung cảm và quyến luyến sâu sắc giữa hai người khác giới. Ở họ có sự phù hợp về nhiều mặt… làm cho họ có nhu cầu gần gũi, gắn bó với nhau, tự nguyện sống vì nhau và sẵn sàng hiến dâng cho nhau cuộc sống của mình.

Tình yêu thật sự không phải là cảm xúc, dù nó thường đến cùng những cảm xúc mạnh đến mức làm con người choáng ngợp. Tình yêu không thể kéo dài nếu hai người chỉ có cảm xúc với nhau.
Sự hiểu biết lẫn nhau mới là nền tảng của tình yêu thật sự. Bạn có thể “phải lòng” một chàng trai thậm chí chưa bao giờ nói chuyện. Nhưng để có một tình yêu thật sự, bạn cần phải tìm hiểu về người ấy. Bởi biết về tư cách và cá tính người mình yêu là vô cùng quan trọng.

Yêu, là nhìn thấy ở người đó những điều không hoàn hảo mà vẫn yêu.
Yêu, là muốn mang lại cho người mình yêu những điều tốt đẹp nhất.
Yêu, là không mất trí, vẫn học quên mình, vẫn dành trái tim cho gia đình và bè bạn...
Yêu, là dành thời gian, công sức để tìm hiểu tâm hồn và tính cách của nhau.
Yêu, là dành thời gian và công sức để tìm hiểu và yêu quý những gì mà người con yêu gắn bó.

Yêu, là tin tưởng và hiểu biết lẫn nhau.

Yêu, là nếu tranh cãi thì không thường xuyên và cũng không nghiêm trọng.
Yêu, là nếu tranh cãi chỉ giúp hiểu nhau hơn và tình yêu bền vững hơn.
Yêu, là hướng tới một mối quan hệ lâu dài.
Yêu, là khi xa cách, chỉ thấy yêu hơn và gắn bó hơn

Khi một người không còn yêu mình muốn rời xa mình, mình cần hỏi lại bản thân có còn thực sự yêu người đó nữa không, vì có lẽ chính tình yêu không thực của mình làm cho người ấy muốn xa cách mình. Nếu bạn không còn yêu người ấy nữa thì đừng bao giờ vì lòng tự trọng mà không chịu rời xa người ấy. Nếu như bạn vẫn còn yêu người ấy, lẽ đương nhiên bạn sẽ hy vọng người ấy có được một cuộc sống hạnh phúc, vui vẻ, hy vọng người ấy được ở cùng người mình yêu. Ðừng bao giờ ngăn cản, nếu bạn ngăn cản người ấy có được hạnh phúc thật sự của mình nghĩa là bạn không còn yêu người ấy nữa, và cũng chính là đã tự hạ thấp mình vì đã vô tình cho người ấy biết là mình muốn chiếm hữu người ấy. Và nếu như bạn không còn yêu thì bạn lấy tư cách gì để trách người ấy bạc tình. Yêu không phải là chiếm hữu, bạn thích mặt trăng, không thể đem mặt trăng cất vào trong hộp nhưng ánh sáng của mặt trăng lại có thể chiếu sáng vào tận trong phòng bạn. Cũng như bạn yêu một người, bạn vẫn có thể có được người ấy mà không cần chiếm hữu và khiến người yêu trở thành một hồi ức vĩnh hằng trong cuộc sống.

Nếu bạn thật sự yêu một người, phải yêu con người thực của người đó, yêu mặt tốt cũng yêu cả mặt xấu, yêu cái ưu điểm lẫn khuyết điểm, tuyệt đối không nên vì yêu người ấy mà hy vọng người ta trở thành một con người như mình mong muốn, nếu người ấy không được như ý mình thì mình không còn yêu người ấy nữa.
Yêu một người nào đó thật sự không nói ra được nguyên nhân vì sao yêu, bạn chỉ biết rằng, bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu, tâm trạng tốt hay xấu, vui hay buồn, thì bạn cũng đều mong muốn người ấy ở bên cạnh bạn, và chỉ thế là đủ, không yêu cầu gì hơn...Tình yêu cũng như một loại cây xanh, nếu ta không biết cách chăm sóc dưỡng nuôi, hoặc thừa hoặc thiếu, thì nó sẽ héo tàn và lụn bại.

Tình yêu là tình cảm sâu sắc, đáng trân trọng của cá nhân, tuy nhiên không nên cho rằng đó hoàn toàn là việc riêng tư của mỗi người. Tình yêu luôn mang tính xã hội. Trước hết, tình yêu được bắt nguồn và bị chi phối bỡi những quan niệm, kinh nghiệm sống của những người yêu nhau (mà những quan niệm, kinh nghiệm này lại phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể mà cá nhân đang sống, vào vị trí xã hội và đặc điểm của thời đại…). Mặc khác, tình yêu luôn luôn đặt ra những vấn đề mà xã hội cần phải quan tâm, chăm lo cho việc kết hôn, xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ…Vì thế, xã hội không can thiệp đến tình yêu cá nhân nhưng có trách nhiệm hướng dẫn mọi người có quan niệm đúng đắn về tình yêu, đặc biệt là ở những người bắt đầu bước sang tuổi thanh niên.

b. Thế nào là một tình yêu chân chính?

Tình yêu chân chính là tình yêu trong sáng và lành mạnh, phù hợp với các quan niệm đạo đức tiến bộ của xã hội. Một tình yêu chân chính phải có những biểu hiện cơ bản sau đây:

- Có tình cảm chân thực, sự quyến luyến, gắn bó giữa một nam và một nữ, biểu hiện bằng sự mong muốn luôn được gần gũi bên nhau, sự đồng cảm sâu sắc về tâm tư, nguyện vọng, ước mơ, hoài bão…, sự hài hòa về tính cách giữa hai người.

- Có sự quan tâm sâu sắc đến nhau, không vụ lợi, thể hiện bằng sự chăm lo đến những nhu cầu, lợi ích của nhau, tự nguyện xác định cho mình những nghĩa vụ đối với người mình yêu.

- Có sự chân thành, tin cậy và tôn trọng từ cả hai phía.

- Có lòng vị tha và sự thông cảm.

c. Một số điều nên tránh trong tình yêu của nam nữ thanh niên

- Yêu đương quá sớm

- Yêu một lúc nhiều người, yêu để chứng tỏ khả năng chinh phục bạn khác giới hoặc yêu đương vì mục đích vụ lợi

- Có quan hệ tình dục trước hôn nhân

Thứ Tư, 9 tháng 11, 2011

Gánh thơ lên bán chợ Trời

  • Thanh Thư

Trong dòng chảy văn học Việt Nam, Tản Đà là thi sĩ đầu tiên mở đầu cho thơ ca Việt Nam hiện đại, “người vắt mình qua hai thế kỉ”. Ông cũng là người đầu tiên đã có can đảm làm thi sĩ một cách đường hoàng. Đặc biệt là ông dám giữ một bản ngã, dám có một cái tôi, mà như đánh giá của Xuân Diệu công lao lớn nhất của Tản Đà là đã cống hiến cho văn học một cái tôi cá nhân, cá thể. Cái Tôi cá nhân trong thơ Tản Đà được thể hiện qua nhiều cung bậc khác nhau, đó là cái tôi đa sầu, đa cảm, cái tôi đa tình và cái tôi ngông. Tản Đà không phải là một trường hợp “ngông” cá biệt trong văn học Việt Nam. Trước ông, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát…đều ngông. Nhưng có lẽ chỉ Tản Đà mới có cái kiểu ngông gánh thơ lên bán chợ trời.
 “Ngông” là tỏ ra bất cần đến sự khen chê của người đời, có người nói, đó là thái độ khinh đời, ngạo đời dựa trên sự tài hoa uyên bác. Người Trung Hoa hiểu ngông là cuồng, là loạn. Xét đến cùng, ngông thể hiện một cá tính đặc biệt. Khái niệm “ngông” trong văn học thường được dùng để chỉ định một kiểu ứng xử xã hội và nghệ thuật khác thói thường của những nhà văn, nhà thơ có ý thức cá nhân cao độ. Tất nhiên, ý thức cá nhân ấy cũng chỉ được phát triển mạnh mẽ trong những điều kiện xã hội nhất định, gắn liền với tổng thể những quan niệm khá mới mẻ (trong khuôn khổ trung đại) về vũ trụ, nhân sinh và nghệ thuật. Đối với Tản Đà, cái ngông ấy không nên hiểu đơn thuần chỉ là cái ngông của những nhà nho tài tử, của đám văn nhân, mà phải hiểu theo góc độ khác, từ nhân sinh quan. Trước hết, khi thể hiện mình ngông, nghĩa là khi con người sống thật với mình nhất, thể hiện cá tính không trộn lẫn với người khác, dù người khác ấy có sự chi phối mạnh mẽ đến bản thân mình. Xã hội phong kiến là xã hội không cho cá tính phát triển, người có tài trong xã hội phong kiến là người chỉ được múa một tay (Phan Ngọc), con người trong xã hội phong kiến phải tuân theo các phép tắc của cộng đồng, phải hòa mình vào số đông của tập thể. Sự phát triển cá tính trong xã hội phong kiến là một mầm họa. Vì thế, mọi phép tắc ứng xử trong xã hội phong kiến, suy cho cùng là để bóp chết cá tính của con người. Trong xã hội ngột ngạt như thế mà có những tính cách trỗi dậy thì rõ ràng không thể xem đó là sự ương ngạnh. Mặt khác trong những năm 20 của thế kỉ XX, trước luồng gió của chủ nghĩa cá nhân tư sản và trào lưu văn học lãng mạn trên thế giới, xã hội nảy sinh nhu cầu đòi giải phóng bản ngã, đòi tự do và đời sống tình cảm riêng tư chống lại sự kiềm hãm, đè nén của xã hội phong kiến. Cái “ngông” của Tản Đà thực chất là sự phản ứng của xã hội đương thời ở góc độ nhân sinh quan. Sự phản ứng đó là hết sức táo bạo, thể hiện bản lĩnh của một nhân cách sống.
Tản Đà được ví là nhà thơ của say, ngông mộng. Tản Đà đã thể hiện cái ngông trong cuộc sống và trong cả thơ văn. Ngay trong lời tự bạch, Tản Đà đã hiện lên với hình ảnh của một khách chơi ngông nghênh nhất: Trời sinh ra bác Tản Đà/ Quê hương thời có, cửa nhà thời không. Tản Đà coi bốn phương là nhà, mang túi thơ đi khắp trong thiên hạ, mang cái ngông nghênh của mình thách thức với cả sông núi. Và ông cho rằng đó là định mệnh sắp đặt ông như vậy, dù ông dù mọi người có chấp nhận hay không. Có thể nói trong sáng tác của mình, Tản Đà đã thực sự là người kế tục của khuynh hướng văn học đã kịp thời trở thành truyền thống lịch sử. Không có cái ngông thị tài của Cao Bá Quát, không có cái ngỗ ngược của Nguyễn Công Trứ, không có một chàng Kim Trọng Rắp mong theo ấn từ quan để tìm kiếm lại người đẹp thì khó mà có cái tuyên ngôn ngạo nghễ của Tản Đà:Thơ lưng chất nặng tay buồn rỗi/ Bán áo mà mua giấy viết ngông. Hỏng thi, nếm trải cảnh bi kịch xưa nay không ít. Tú Xương đã viết về điều đó thật thấm thía. Nhưng Tản Đà thì lại khác, hỏng khoa thi Đinh Dậu, khoa Nhâm Tí, ông đã đe dọa và hùng hổ đến tức cười: Bởi ông hay quá ông không đỗ/ Không đỗ ông càng tốt bộ ngông. Ai đó đã từng nói: thi sĩ cũng là tửu đồ, tìm đến rượu, cái ngông ấy như được kích thích, ngông lại càng ngông. Bao nhà thơ nói rất hay về rượu, lập luận, lí sự cho việc say sưa. Tản Đà cũng thích rượu, vì cũng như các nhà thi bá thời xưa (Lí Bạch, Lưu Linh), rượu là nguồn cảm hứng của ông. Rượu là phương tiện thần diệu mê ly để ông ngông với đời. Say sưa nghĩ cũng hư đời/  Hư thời hư vậy, say thời cứ say/ Đất say đất cũng lăn quay/ Trời say mặt đất đỏ gay ai cười? Tản Đà đã say, đã sống trọn vẹn trong cái say của mình, cái say ngạo mạn và thách thức. Tản Đà không say rượu. Rượu chẳng qua chỉ là cái cớ. Một cái cớ để giúp cho Tản Đà được ngất ngưởng vùng vẫy trong cuộc chơi: Cảnh đời gió gió mưa mưa/ Buồn trông ta phải say sưa đỡ buồn/ Rượu say, thơ lại khơi nguồn/ Nên thơ, rượu cũng thêm ngon giọng tình/ Rượu thơ mình lại với mình/ Khi say quên cả cái hình phù du/ Trăm năm thơ túi rượu vò. Tóm lại, trong thơ Tản Đà, ngông là một đặc điểm nổi bật thể hiện cách sống khinh bạc, làm trái ngược đời để tỏ rằng mình tỉnh trong khi kẻ khác say, để chứng minh rằng mình thanh bạch trong khi người khác ô trọc, dơ bẩn. Sau Tú Xương, có lẽ Tản Đà là một nhà thơ ngông hơn cả trên thi đàn văn giao thời hai thế kỉ XIX -XX.
            Có thể nói cái ngông cũng như phong cách thơ Tản Đà được thể hiện tiêu biểu nhất qua bài thơ Hầu trời được xếp trong tập Còn chơi (1921). Xuân Diệu đánh giá Hầu Trời là một trong số những bài đứng lại được với thời gian, ngạo cùng năm tháng. Bài thơ là một đóng góp lớn lao của Tản Đà trong việc cách tân về cả nội dung và hình thức thơ, tiêu biểu nhất là sự thể hiện cái tôi ngông. Có thể nói Hầu trời không phải là một đề tài mới của riêng Tản Đà, đề tài “lên tiên” đã từng được thể hiện trong nhiều sáng tác dân gian và văn học viết thời trung đại. Nhưng Tản Đà lên tiên trong một bối cảnh, mục đích, diễn biến hoàn toàn khác so với trước đó. Tiếng ngâm thơ “vang cả sông Ngân Hà” khiến Trời “mất ngủ”. Rõ ràng, cái duyên được lên hầu Trời gắn liền với những phút cao hứng của nhà thơ. Chuyện bịa mười mươi mà xem chừng rất tự nhiên. Bài thơ có rất nhiều chi tiết cụ thể được xếp đặt lô-gich: nằm một mình - buồn- đun nước uống -ngâm văn, tiên xuống - nêu lí do -đưa lên trời, được đón tiếp trọng vọng, được mời mọc đọc thơ -chư tiên xúm vào khen ngợi, tán thưởng -Trời truyền hỏi danh tính -kể lể tình cảnh, bày tỏ nỗi lòng -Trời đả thông tư tưởng, lạy tạ ra về… Nhà thơ đã mở đầu câu chuyện của mình bằng một giọng điệu rất hấp dẫn, bịa mà vẫn tự nhiên, hóm hỉnh. Ở đây, tác giả muốn người đọc cảm nhận được cái hồn cốt trong cõi mộng, mộng mà như tỉnh, dường như tác giả muốn người đọc xác nhận đây là một câu chuyện thật. Nó đưa người đọc đến với những cảnh trí thần tiên, lộng lẫy, không còn sự ràng buộc, không còn sự giới hạn. Nhà thơ bịa ra chuyện “hầu trời”, hình dung và đặt các đấng siêu nhiên ngang hàng với mình đã hàm chứa một sự khiêu khích đối với cái tôn ti, đẳng cấp đang thống trị xã hội lúc bấy giờ. Chính vì vậy, câu chuyện được lên tiên giới vừa lãng mạn nhưng pha lẫn nét “ngông” trong thơ thi nhân. Việc hư cấu nên cả một câu chuyện như muốn đưa thơ trữ tình thoát dần nhiệm vụ tỏ chí nghiêm trang, khắc khổ để tiện giải bày cảm xúc phóng khoáng của con người cá nhân, đồng thời là một cách để nhà thơ thể hiện độc đáo nhất cái ngông của mình.
Sau khi được hai nàng tiên dẫn lên trời, Tản Đà đã đọc thơ cho chư tiên nghe: Chư tiên ngồi quanh đã tĩnh túc/ Trời sai pha nước để nhấp giọng/ Truyền cho văn sĩ đọc văn nghe/ Dạ bẩm lạy trời con xin đọc. Thi nhân đọc rất cao hứng, sảng khoái và có phần ngông nghênh tự đắc: Đọc hết văn vần sang văn xuôi/ Hết văn lý thuyết lại văn chơi/ Đương cơn đắc ý đọc đã thích/ Chè trời nhấp giọng càng tốt hơi. Tự khen tài mình nhưng lại chọn hình thức để Trời cùng chư tiên khen ngợi. Đây là một kiểu ngông rất đáng yêu trong thơ Tản Đà. Rõ ràng, thi nhân rất ý thức về tài năng văn thơ của mình và cũng là người táo bạo, dám đường hoàng bộc lộ “cái tôi” cá thể. Nhà thơ đã thấy được dài, giàu, lắm lốiphẩm hạnh đặc thù của văn thời mình, bên cạnh những phẩm hạnh truyền thống như nhời văn chuốt đẹp, khí văn hùng mạnh, êm, tinh…Tình huống hầu Trời quả đã cho nhà thơ một cơ hội tuyệt vời để phô bày một cách sảng khoái tài năng của bản thân. Ông cũng rất ngông khi tìm đến trời để khẳng định tài năng, ngông khi đem văn chương lên “tiếp thị” chợ trời. Cái ngông ấy gián tiếp nói lên rằng ở hạ giới không có ai là tri âm, tri kỉ với thơ văn ông. Lời trời khen hẳn là sự thẩm định có sức nặng nhất, không thể bác bỏ, nghi ngờ. Đúng là một lối tự khẳng định rất ngông đồng thời bộc lộ quan niệm về văn chương của Tản Đà. Có thể nói Tản Đà là nhà thơ đầu tiên đi rao bán văn chương.
Khi đọc văn chương cho trời nghe, Trời hỏi danh tính, Tản Đà đã hiên ngang thể hiện cái tôi của mình qua việc tự xưng: Dạ, bẩm lạy Trời, con xin thưa:/ Con tên Khắc Hiếu họ là Nguyễn/ Quê ở Á châu về Địa cầu/ Sông Đà, núi Tản, nước Nam Việt. Tác giả đã tâu trình rõ ràng về họ tên, xuất xứ của mình cho Trời nghe. Việc xưng danh của Tản Đà diễn ra khá tự nhiên, phù hợp hoàn toàn với mạch truyện. Việc thể hiện họ tên trong tác phẩm chính là một cách để thể hiện cái tôi cá nhân của mình, và đó cũng chính là cái ngông của Tản Đà. Thơ văn trước kia không ít người xưng tên, Nguyễn Du đã từng ngậm ngùi: Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như (Độc Tiểu Thanh kí), Hồ Xuân Hương trong Mời trầu cũng tự khẳng định: Này của Xuân Hương mới quệt rồi, Nguyễn Công Trứ Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng (Bài ca ngất ngưởng)…Nhưng cách xưng danh tính của Tản Đà cũng khác thể hiện rõ dấu ấn trong cung cách của ông, đó là cách xưng hô tên trước, họ sau giống phương Tây, tách tên, họ theo một kiểu cung khai lí lịch rất hiện đại, lại còn nói rõ bản quán, quốc tịch, châu lục, tên của hành tin… Vì vậy đã ngông lại càng ngông. Nhưng đó là cái ngông của người có tài và biết trân trọng, khẳng định tài năng của mình. Có một nụ cười hóm hỉnh ẩn sau vẻ thành khẩn trước “đấng chí tôn”, nhưng điều đáng nói hơn hết vẫn là ý thức cá nhân, ý thức dân tộc của nhà thơ. Một cái tên - tên thật chứ không phải tự hay hiệu -mà được nói ra trịnh trọng đến vậy hẳn nhà thơ phải thấy có một giá trị không thể phủ nhận gắn liền với nó. Hơn nữa, ông còn muốn Trời thấy được Nguyễn Khắc Hiếu chính là của Á Châu -của xứ sở có một nền văn minh tinh thần cao quý, đáng tự hào. Cụ thể thêm một mức nữa, ông kiêu hãnh khai mình là đứa con đích thực của sông Đà núi Tản nước Nam Việt. Khi trong thời hiện đại, hai chữ “thiên hạ” đã trở thành một khái niệm mở (điều này Tản Đà ý thức được rất rõ), đặc biệt khi đất nước đã mất chủ quyền, kiểu nói như vậy của nhà thơ rõ ràng chứa đựng cả một cái thái độ tự tôn dân tộc, một tình cảm “non nước” đáng quý. Cũng qua câu thơ, tác giả đã ngầm cho biết lai lịch của bút hiệu Tản Đà – một điều đã từng được ông thể hiện trong nhiều bài thơ khác.
            Tản Đà xưng rõ danh tính, hóm hỉnh hơn, nhà thơ còn khẳng định cả phong cách ngông của mình qua việc mượn lời của “Thiên tào” tra sổ: Bẩm quả có tên Nguyễn Khắc Hiếu/ Đày xuống hạ giới vì tội ngông. Rõ ràng việc tự nhận mình là trích tiên (ngầm so sánh mình với Lý Bạch) là một cái tôi rất mực ngông nghênh của Tản Đà. Tự nhận mình là tiên nghĩa là gián tiếp khẳng định mình cao hơn mọi người.Và ông tiên ấy vì ngông mới bị đày xuống hạ giới. Văn thơ trước đó không phải không có người ngông, nhưng tự nhận mình là ngông như Tản Đà thì thật là hiếm. Sau khi đối thoại với Trời, ngông hơn, nhà thơ còn tự nhận trách nhiệm và sứ mệnh cao cả của người nghệ sĩ nói chung và của bản thân mình nói riêng là lo việc thiên lương cho nhân loại dưới cõi trần tục: Trời rằng không phải là Trời đày/ Trời định sai con một việc này/ Là việc thiên lương của nhân loại/ Cho con xuống thuật cùng đời hay. Việc thiên lương là một luận thuyết về cải cách xã hội của Tản Đà. Ông quan niệm thiên lương là nhân tố cơ bản thúc đẩy sự tiến bộ xã hội, là sự thống nhất toàn vẹn của ba “chất” trong con người: lương tri (tri giác trời cho), lương tâm (tâm tính trời cho) và lương năng (tài năng trời cho). Theo ông, nếu chú ý bồi đắp, thực hành thiên lương thì có thể cải tạo được tình trạng luân thường đảo ngược, phong hóa suy đồi và sự trì trệ, lạc hậu của xã hội Việt Nam thời đó. Như vậy, Tản Đà muốn bất mãn trước cuộc đời nhưng ông vẫn luôn tha thiết vì đời, quan điểm viết văn là để phục vụ việc thiên lương cho nhân loại. Viết văn hay làm cho đời đẹp là nhiệm vụ mà trời đã trao cho nghệ sĩ.
Bài thơ Hầu trời được Tản Đà viết vào đầu những năm 20 của thế kỉ XX. Đây là thời kì mà thơ Việt Nam đang tiến vào quỹ đạo hiện đại, hình thức thơ cũng có nhiều biến đổi: bài thơ dài, mỗi bài nhiều khổ, ngôn ngữ từ “điệu ngâm” chuyển sang “điệu nói”. Bài thơ Hầu trời của Tản Đà là một cách tân đáng kể về thể thơ. Tản Đà không dùng các thể thơ cũ như thất ngôn bát cú, tứ tuyệt, lục bát, song thất lục bát …như các bài thơ trước đó mà dùng thể thơ thất ngôn trường thiên.Với ưu thế không hạn định về số câu, niêm, luật, vần, đối, ngắt nhịp  hết sức tự do, thể thơ này đã giúp Tản Đà đi đến tận cùng trong việc thể hiện những cung bậc cảm xúc trong tâm hồn, chuyển tải thành công câu chuyện hư cấu tưởng tưởng và kể chuyện một cách linh hoạt. Điều ấy góp phần không nhỏ trong việc thể hiện cái ngông của nhà thơ, tạo nên một sự hài hòa giữa nội dung và hình thức. Chỉ có trong một thể loại thơ tự do phóng khoáng thì cái tôi ngông ấy mới có đất thỏa sức thể hiện mình. Như vậy, ngay trong việc lựa chọn thể thơ phần nào đã thể hiện cá tính tác giả. Tản Đà được mệnh danh là “ảo thuật gia” về ngôn ngữ…thì với Hầu trời  hoàn toàn ngược lại. Ngôn ngữ trong bài thơ Hầu trời  là thứ ngôn ngữ gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày, ít có những ước lệ, cách điệu như trong thơ trung đại, đôi khi có phần suồng sã. Những câu thơ dường như cứ tự nhiên tuôn ra một cách hết sức thoải mái: Trời lại sai con việc nặng quá/ Biết làm có được mà dám theo. Có thể nói việc đưa ngôn ngữ đời thường dung dị mà vẫn rất gợi cảm vào thơ ca là sáng tạo độc đáo về mặt nghệ thuật của Tản Đà. Ngôn ngữ thơ ở Hầu Trời đã có sự xâm nhập của giọng điệu văn xuôi và ngôn ngữ bình dân. Không quá câu nệ vào vần luật nên mạch cảm xúc được phát triển rất tự nhiên và cái Tôi cá nhân đã thoả sức bộc lộ và thể hiện mình. Đó là một kiểu ngông rất nghệ sĩ, vui vẻ và đáng yêu. Bài thơ đã phác hoạ một chân dung thi sĩ Tản Đà với phong cách ngông độc đáo, đó là cái ngông của một nhà nho tài tử ở thời kì mà ý thức cá nhân bắt đầu được trân trọng và khẳng định. Giọng điệu trong bài thơ Hầu trời khá linh hoạt: đó là giọng kể mang tính tự sự phối hợp với giọng trữ tình nhiều sắc điệu, khi hóm hỉnh hài hước, lúc thì sôi nổi phóng khoáng, khi lại ngậm ngùi, chua chát. Với giọng điệu tương đối tự do, linh hoạt, cách biểu hiện cảm xúc của tác giả trở nên phóng túng, tự do, không bị gò ép. Đây cũng chính là một cách tốt nhất để tác giả có thể thể hiện cái ngông và cá tính của mình.
Tản Đà đã một mình làm được “cơn gió lạ”. Nối dài một truyền thống sáng tạo, ông đã đưa lại cho Văn học Việt Nam thời cận đại hàng loạt những sáng tác mẫu mực. Đóng góp lớn nhất của ông là việc thể hiện con người cá nhân, khẳng định ý thức cá nhân một cách mạnh mẽ, táo bạo. Trong đó Hầu Trời là bài thơ đẹp đẽ nhất. Tuy lịch sử văn học đã vượt qua ông để tiếp tục cuộc vận hành bất tận với những tên tuổi mới, nhưng gạt Tản Đà ra khỏi sẽ thấy một khoảng trống vô cùng to lớn. Hầu trời là bài thơ không chỉ mới ở tình điệu cảm xúc, không chỉ thể hiện một ý thức cá nhân mới, một cái tôi rất gần với cái tôi thơ Mới sau này mà còn có những đổi mới đáng kể về mặt hình thức nghệ thuật. Và như ai đó đã từng nói Hầu Trời chưa phải là bài thơ hay nhất của Tản Đà nhưng là minh chứng rõ nhất cho “người của hai thế kỉ”.
V.T.T.T
(GV Văn - THPT Chuyên Lê Quý Đôn Bình Định)

Thứ Ba, 8 tháng 11, 2011

Bài văn của Nguyễn Trung Hiếu - trường Ams

Thư gửi mẹ

Mẹ thân yêu của con !
“Trời ơi là trời ! Anh ăn đi cho tôi nhờ, đừng có nhịn ăn sáng nữa. Đừng có dở hơi đi tiết kiệm mấy đồng bạc lẻ thế, anh tưởng rằng thiếu tiền như thế thì tôi chết à ?”. Đó là những “điệp khúc” mẹ cất lên hàng ngày dạo gần đây vì con quyết định nhịn ăn sáng đi học để tiết kiệm chút tiền cho mẹ, cho gia đình. Có lúc mẹ còn gắt lên, hỏi con “Sao cứ phải đắn đo khổ sở về tiền đến thế nhỉ ?” .
Mẹ ơi, những lúc ấy mẹ đang giận nên con không dám cãi lại. Nhưng giờ đây con muốn được bày tỏ lòng mình rằng tại sao con lại có những suy nghĩ, hành động kì lạ như vậy. Vâng, tất cả là vì tiền. Chỉ đến tận bây giờ con mới nhận ra cả một quãng thời gian dài trước đó con đã non nớt, ngây thơ biết chừng nào khi nghĩ về tiền. Cách đây 8 năm bệnh viện đã chuẩn đoán mẹ bị suy thận mãn tính độ 4 (độ cao nhất về suy thận). 8 năm rồi nhà ta đã sống trong túng thiếu bần hàn, vì bố mẹ không kiếm được nhiều tiền lại phải dành tiền cho mẹ đi chạy thận. Nhưng bố mẹ vẫn cho con tất cả những gì có thể, và cậu bé học trò như con cứ vô tư đâu biết lo gì.
Hồi học tiểu học, tiền bạc đối với con là một cái gì đó rất nhỏ, nó là những tờ giấy với đủ màu có thể dùng để mua cái bánh, cái kẹo, gói xôi hay cái bánh mì … Con đâu có ngờ tiền chính là yếu tố quyết định sinh mạng mẹ mình, là thứ bố mẹ phải hàng ngày chắt bóp và bao người thân gom góp lại để trả cho từng ca lọc máu cho mẹ tại bệnh viện Bạch Mai, là thứ càng làm mẹ thêm đau đầu suy nghĩ khi mẹ buộc phải nghỉ việc làm vì điều kiện sức khỏe không cho phép.
Rồi đến khi con học lớp 8, mẹ càng ngày càng yếu và mệt, phải tăng từ 2 lên 3 lần lọc máu/ tuần. Những chỗ chích ven tay của mẹ sưng to như hai quả trứng gà, nhiều hôm máu thấm ướt đẫm cả tấm băng gạc. Do ảnh hưởng từ suy thận mà mẹ còn bị thêm viêm phổi và suy tim. Rồi ông lại bị ốm nặng, bố phải nghỉ việc ở nhà trông ông, nhà mình vì thế càng trở nên túng quẫn, mà càng túng thì càng khổ hơn. Tờ một trăm ngàn hồi ấy là một thứ gì đó xa xỉ với nhà mình. Cũng từ dạo ấy, đầu óc non nớt của con mới dần vỡ lẽ ra rằng tiền bạc chính là mồ hôi, nước mắt, là máu (theo đúng nghĩa đen của nó, vì có tiền mới được chạy thận lọc máu mà) và bao nỗi niềm trăn trở lo lắng của bố và mẹ.
Hôm trước con có hỏi quan điểm của mẹ về tiền bạc thế nào để con có thêm ý viết bài làm văn nghị luận cô giao. Mẹ hơi ngạc nhiên vì câu hỏi đường đột ấy. Rồi mẹ chỉ trả lời với 3 từ gọn lỏn “Mẹ ghét tiền”. Nếu con còn thơ dại như ngày nào, hay như một người ngoài nào khác thì chắc con đã ngạc nhiên lắm. Nhưng giờ đây con cũng đồng ý với mẹ : con cũng ghét tiền. Bởi vì nó mà mẹ phải mệt mỏi rã rời sau mỗi lần đi chạy thận. Mẹ chạy thận 3 lần mỗi tuần, trước đây bố đưa đón mẹ bằng xe đạp nhưng rồi mẹ bảo đi thế khổ cả hai người mà còn phải chờ đợi mất ngày mất buổi của bố nữa nên mẹ chuyển sang đi xe ôm. Nhưng đi xe ôm mất mỗi ngày mấy chục, tốn tiền mà lại chẳng kiếm đâu ra, mẹ quyết định đi xe buýt. Mỗi khi về nhà, mẹ thở hổn hển, mẹ lăn ra giường lịm đi không nói được câu gì. Con và bố cũng biết là lúc ấy không nên hỏi chuyện mà nên để yên cho mẹ nghỉ ngơi. Tám năm rồi, tám năm chứng kiến cảnh ấy nhưng con vẫn chưa bao giờ có thể quen được. Con chỉ biết đứng từ xa nhìn mẹ, và nghiến răng ước “giá như có dăm chục ngàn cho mẹ đi xe ôm thì đâu đến nỗi !”.
Con bỗng ghét, thù đồng tiền. Con bỗng nhớ hồi trước, khi mẹ vẫn nằm trong viện. Ba người bệnh chen chúc chung nhau một chiếc giường nhỏ trong căn phòng bệnh ngột ngạt và quá tải của bệnh viện Bạch Mai. Con đã ngây thơ hỏi mẹ “Sao mẹ không vào phòng bên kia, ở đấy mỗi người một giường thoải mái lại có quạt chạy vù vù, có tivi nữa ?”. Mẹ chỉ nói khẽ “cha tổ anh. Đấy là phòng dịch vụ con ạ”. Con lúc ấy chẳng hiểu gì. Nhưng rồi con cũng vỡ lẽ ra rằng đó là phòng mà chỉ những ai rủng rỉnh tiền thì mới được vào mà thôi. Còn như mẹ thì không được. Con căm nghét đồng tiền vì thế.
Con còn sợ đồng tiền nữa. Mẹ hiểu con không ? Con sợ nó vì sợ mất mẹ. Mẹ đã phải bốn lần đi cấp cứu rồi. Những người suy thận lâu có nguy cơ tử vong cao vì huyết áp dễ tăng, máu dồn vào dễ làm tắc ống khí quản và gây tắc thở. Mẹ thừa biết điều này. Nhiều người bạn mẹ quen trong “xóm chạy thận” đã phải chịu những cái kết bi thảm như thế. Nhiều đêm con bỗng choàng tỉnh dậy, mồ hôi đầm đìa mà lạnh toát sống lưng bởi vừa trải qua một cơn ác mộng tồi tệ …
Con sợ mẹ lại phải đi cấp cứu, và sợ nhỡ nhà mình không đủ tiền để nộp viện phí thì con sẽ mất đi người thân yêu nhất trong cuộc đời này. Mỗi buổi mẹ đi chạy thận là mỗi buổi cả bố và con đều phấp phỏng, bồn chồn, lo lắng. Mẹ về muộn là lòng con nóng như lửa đốt, còn bố thì cứ đi đi lại lại và luôn hỏi “bao giờ mẹ mày mới về?”. Với con cơ hội là 50/50, hoặc là mẹ chạy thận an toàn và về nhà, hoặc là …
Con lo sợ hơn khi đọc báo thấy bảo có người không đủ tiền trả phần ít ỏi chỉ là 5% bảo hiểm y tế, tiền thuốc men mà phải về quê “tự điều trị”. Với những bệnh nhân phải chạy thận, như thế đồng nghĩa là nhận bản án tử hình, không còn đường sống. Con bỗng hoảng sợ tự hỏi nếu không còn BHYT nữa thì sao? Và nếu ông mất thì sao? Chi tiêu hàng ngày nhà mình giờ đây phần nhiều trông chờ vào tiền lương hưu của ông, mà ông thì đã già quá rồi …
Mẹ ơi, tiền quan trọng đến thế nào với gia đình mình thì chắc mẹ hiểu rõ hơn con. Cứ nghĩ đến tiền là con lại nhớ đến những đêm bố mất ngủ đến rạc cả người, nhớ đến những vết chích ven sưng to như quả trứng gà của mẹ, nhớ đến cả thìa đường pha cốc nước nóng con mang cho mẹ để mẹ uống bồi bổ mỗi tối. Mẹ chắt chiu đến mức sữa ông thọ rẻ tiền mà cũng không mua để tự bồi dưỡng sức khỏe cho mình.
Con sợ tiền mà lại muốn có tiền. Con ghét tiền mà lại quý tiền nữa mẹ ạ. Con quý tiền và tôn trọng tiền bởi con luôn biết ơn những người hảo tâm đã giúp nhà mình. Từ những nhà sư tốt bụng mời mẹ đến chùa vào cuối tuần, những cô bác ở Hội chữ thập đỏ quyên góp tiền giúp mẹ và gia đình mình. Và cả những người bạn xung quanh con, dù chưa giúp gì được về vật chất, tiền bạc nhưng luôn quan tâm hỏi thăm sức khỏe của mẹ… Nhờ họ mà con cảm thấy ấm lòng hơn, vững tin hơn.
Con cảm thấy bất lực ghê gớm và rất cắn rứt lương tâm khi mẹ không đồng ý với các kế hoạch của con. Đã có lúc con đòi đi lao động, đi làm gia sư hay đi bán bánh mì “tam giác” như mấy anh sinh viên con quen để kiếm tiền giúp mẹ nhưng mẹ cứ gạt phăng đi. Mẹ cứ một mực “tống” con đến trường và bảo mẹ chỉ cần con học giỏi thôi, con giỏi thì mẹ sẽ khỏe.
Vâng, con xin nghe lời mẹ. Con vẫn đến trường. Con sẽ cố gắng học thật giỏi để mẹ và bố vui lòng. Nhưng mẹ hãy để con giúp mẹ, con đã nghĩ kĩ rồi, không làm gì thêm được thì con sẽ nhịn ăn sáng để tiết kiệm tiền. Không bán bánh mì được thì con sẽ ăn cơm với muối vừng. Mẹ đừng lo mẹ ạ, mẹ hãy an tâm chạy chữa và chăm sóc cho bản thân mình. Hãy để con được chia sẻ sự túng thiếu tiền bạc cùng bố mẹ. Vậy con khẩn thiết xin mẹ đừng cằn nhằn la mắng con khi con nhịn ăn sáng. Mẹ đừng cấm đoán con khi con đi lấy chầy, cối để giã lạc vừng. Dù con đã sút 8 cân so với năm ngoái nhưng con tin rằng với sự thấu hiểu lẫn nhau giữa những người trong gia đình thì nhà ta vẫn có thể sống yên ổn để đồng tiền không thể đóng vai trò cốt yếu trong việc quyết định hạnh phúc nữa.
Đứa con ngốc nghếch của mẹ
Nguyễn Trung Hiếu

Thứ Tư, 2 tháng 11, 2011

SỨC MẠNH CỦA NIỀM TIN

Niềm tin là một phạm trù, nhưng nó lại rất mờ ảo. Ai trong chúng ta cũng có cả, chúng ta hiểu về nó nhưng lại khó định nghĩa về nó. Niềm tin đến trong sự trông đợi, trong những khi bạn thấy mình tuyệt vọng. Niềm tin là nghị lực sống, nhưng có khi niềm tin cũng làm cho con người ta thất vọng về nó.
Vậy thì niềm tin là gì?
Nghĩa là đơn giản là tin vào những gì họ nói, đôi khi không hiểu hết được những điều họ đang nói, đang làm nhưng trong lòng vẫn thuyết phục mình tin vào điều đó bởi vì mình nghĩ là điều đó đúng và đáng tin tưởng.
Khi bạn yêu 1 ai đó bạn sẽ đặt niềm tin vào họ, vì đó là niềm tin, là cuộc sống của mỗi người nhưng đó không phải là lý do khiến bạn tồn tài duy nhất mà đó là 1 phần động lực giúp bạn vượt qua khó khăn, vượt qua thử thách để đi tìm 2 từ " hạnh phúc" thật sư của bản thân mình. Sống là không chờ đợi, là sự đấu tranh để sinh tồn để tìm kiếm, vì vậy niềm tin cũng thế. Bạn có thể mất niềm tin vào 1 thứ nhưng không thể mất niềm tin vào tất cả mọi thứ.
Nếu 1 lúc nào đó niềm tin của bạn bị sup đổ, bạn mất niềm tin vào 1 điều mà bạn rất tin tưởng thì mọi thứ với bạn sẽ trở nên rất tồi tệ, và như chẳng còn ý nghĩa gì với bạn cả, đôi khi mọi thứ chỉ hình thành khi bạn đặt niềm tin vào nó, mỗi người có niềm tin và họ dựa vào đó để sống, cái tạo ra niềm tin không phải bắt nguồn từ người khác mà do chính bản thân và ý chí của bạn, vì chỉ có bạn mới hiểu được bạn cần cái gì vì cái gì bạn tin tưởng.
Mỗi người đôi khi chỉ vịn vào niềm tin duy nhất để bước đi, bởi vì họ không biết cũng như cảm thấy không có gì đáng tin hơn điều này cho nên dốc hết sức mình để tin tưởng vào nó, làm thế để làm gì khi biết sai cũng tin, biết là đang đi sai đường nhưng vẫn cố vùng quẫy, than trách. Cuộc sống có rất nhiều điều nó không chỉ gói gọn trong bất cứ khái niệm nào hay từ nào cả, mà nó là cả 1 thế giới bao la, chỉ cần bạn có lòng tin bạn sẽ làm lại được, bạn có thể 1 lần nữa đứng dậy, hô to 1 cách tự hào rằng bạn đã vấp ngã đấy đau đấy nhưng điều đó sẽ giúp bạn tin tưởng hơn vào chính bản thân mình giúp bạn thấm thía nỗi đau của mình, và sẽ biết suy nghĩ đắn đo khi người khác hỏi bạn " có nên tin hay không ? " bạn sẽ lưỡng lự giữa sự tin và không tin, sau 1 hồi suy nghĩ bạn sẽ tìm được câu trả lời tuy có chậm 1 chút, nhưng điều đó cũng giúp bạn giúp bạn không quên bạn đã từng té như thế nào, giúp bạn không quên bạn đã đau như thế nào và làm thế nào để có thể đứng dậy được không phải là bạn không thể có lại niềm tin mà chính bạn có muốn tin và có dám tin hay không? Nếu có thì bạn sẽ vượt qua được thôi.
Niềm tin của cuộc sống là điều gì đó khi bạn vấp ngã, thất bại và chán nản, khi nghĩ đến nó bạn sẽ mạnh mẽ đứng lên và đi tiếp.
Bạn hãy đón nhận mọi sự việc bằng sự dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật. Đừng trốn chạy mà hãy biết phân tích đúng với bản chất những gì đang diễn ra, hãy tự tin vượt qua nó. Bạn đừng bao giờ bỏ cuộc với cảm giác không còn lối thoát trong bất kỳ hoàn cảnh nào.
Bạn hãy chấp nhận và tha thứ. Đừng cố gắn bới móc lỗi lầm của người khác, hãy biết tha thứ nhưng nên nghiêm khắc nhìn lại mình. Đừng ngại mở lòng với tình yêu vì chỉ có tình cảm thật sự mới giúp cho chúng ta tìm được chính mình.
Bạn đừng ngại đối diện với nỗi buồn, sự thất vọng và cô đơn – đôi khi sự cô đơn thực sự sẽ giúp bạn hiểu và chiêm nghiệm được nhiều điều bổ ích, sâu sắc, đừng đắm chìm triền miên trong sự than trách yếu đuối. Bạn hãy bắt tay vào công việc mà bạn yêu thích ngay cả lúc bạn chán nản nhất và không muốn làm việc, vì chỉ có công việc thực sự mới đem lại cho bạn niềm vui và tin vào cuộc sống. “Mất tiền thì bạn có thể làm ra tiền – mất sức khỏe bạn có thể tìm lại được sức khỏe của mình – còn mất danh dự bạn vẫn có thể khôi phục được danh dự nếu bạn có niềm tin và thời gian – mất niềm tin bạn vẫn có thể tìm lại niềm tin bằng sự cố gắng, nghị lực và tình cảm con người – và chỉ khi bạn thôi không cố gắn nữa hay buông xuôi bạn mới có khả năng mất tất cả. Mất danh dự là mất 1 nửa, mất niềm tin là mất hết.”.
Thước đo cho sự thành công hay giá trị của con người không phải là những giá trị vật chất hay danh vọng. Những giá trị tinh thần và niềm tin mới có giá trị lâu dài. Hãy luôn hướng về phía trước – đừng quay đầu lại. Hạnh phúc là cảm giác thực trên từng chặn đường đi chứ không phải chỉ cảm giác tới đích.
Bất cứ ai sử dụng máy tính cá nhân đều biết đến cái tên "Microsoft". Nhưng điều ít người biết đến Bill Gates, người đồng sáng lập công ty này, không chỉ là một thiên tài gặp may, mà là một con người đã biết tự tạo ra kinh nghiệm để hỗ trợ niềm tin của mình. Khi biết rằng công ty Albuquerque đang khai triển một thứ gọi là "máy tính cá nhân" cần đến phần mềm BASIC, Bill Gates đến gặp họ và hứa bán cho họ phần mềm, mặc dù vào lúc đó ông chưa hề có thứ phần mềm này.
Đã hứa, ông phải kiếm cách thực hiện. Thiên tài đích thực của ông là ở khả năng tự tạo ra niềm tin chắc chắn. Có rất nhiều người cũng thông minh như ông, nhưng ông biết sử dụng niềm tin để khai thông nguồn năng lực của mình và chỉ trong ít tuần lễ, ông cùng một đối tác đã viết ra một ngôn ngữ để biến máy tính cá nhân thành hiện thực. Bằng việc quyết tâm và tìm ra lối đi, Bill Gates đã khởi động ngày hôm đó một chuỗi những sự kiện sẽ làm thay đổi toàn diện lề lối kinh doanh của người ta và đã trở thành tỷ phú khi mới 30 tuổi. Niềm tin mang lại sức mạnh!
Hay bạn có biết câu chuyện chạy một dặm trong 4 phút không? Từ trước tới nay, người ta vẫn tin là không ai có thể chạy một dặm mà chỉ mất 4 phút thôi. Thế mà vào năm 1954, Roger Bannister đã phá vỡ sự tin tưởng vững chắc ấy. Anh quyết tâm thực hiện bằng được "điều không thể" ấy, không những bằng việc luyện tập thể dục, mà còn bằng việc không ngừng lặp lại trong trí mình rằng mình có thể làm được việc này, khiến hệ thần kinh của anh đã hình thành một mệnh lệnh bắt buộc anh đạt cho bằng được kết quả.
Tuy nhiên, nhiều người không nhận ra khía cạnh vĩ đại nhất của thành công này lại chính là những gì anh đạt được cho người khác. Hầu như không ai dám nghĩ là có thể đạt kỷ lục chạy 4 phút một dặm, thế mà chỉ trong vòng một năm sau khi Roger phá kỷ lục, 37 vận động viên khác cũng đã phá kỷ lục này. Kinh nghiệm của anh đã cống hiến cho họ mẫu gương đủ vững vàng để tạo nên nơi họ niềm tin chắc chắn rằng chính họ cũng có khả năng làm"điều không thể". Và một năm sau đó nữa, 300 vận động viên khác đã đạt cùng một thành tích như thế!
"Niềm tin nào trở thành chân lý cho tôi là niềm tin cho phép tôi sử dụng hết sức lực của mình, dồn hết năng lực của mình vào hành động"
Chỉ thực sự tin tưởng vào những gì bạn sẽ đạt được bạn mới có thể vững bước trên con đường của mình, dẫu sao bạn đã đi là bạn đã tin vậy tại sao lại dừng lại khi bạn đang dần đi tìm được hạnh phúc không có gì là thực sự dễ dàng bỡi vì cái gì cũng có cái giá của nó cả. Cho đi để nhận lại sống để nếm trải, để vấp ngã để đấu tranh và sinh tồn với số phận của mình dù có bị đánh gục cũng không nản lòng chỉ có như thế mới có thể biết được cái gì là " hạnh phúc", hãy bước những bước dẫu là rất chậm còn hơn là đứng yên nhìn người khác vượt qua mình điều đó chẳng có ý nghĩa gì cả chỉ có bước ra khỏi nỗi đau quá khứ thì bản thân mới tìm đến tương lai và sẽ tìm được hạnh phúc.
Ngay cả lúc thất vọng nhất, hãy luôn nghĩ về những điều bạn từng ước mơ, hãy mạnh dạn và hãy tự tin, trầm tĩnh, vững vàng. Hãy đi những con đường mà bạn đã suy nghĩ là đúng dù có thể chưa ai đi.
Đừng quá tự dằn vặt hay nuối tiếc những gì đã qua, về những gì mà chúng ta đã làm. Không vấp ngã trong cuộc sống là một điều tốt, nhưng vấp ngã mà đứng dậy đi vững vàng thì là một điều tốt hơn. Cuộc đời ai cũng có lần vấp ngã – sau mỗi lần vấp ngã, sai lầm người ta sẽ có được kinh nghiệm sống quí giá hơn. Bạn nên học hỏi từ người khác nhưng đừng lấy người khác làm thước đo giá trị của mình. Đừng mong muốn mọi người hiểu mình, chỉ cần chính bạn hay một người khác hiểu bạn là đủ rồi. Hãy sống thật với cảm xúc của chính mình, những giọt nước mắt, những lời chân thật từ trái tim trong một lúc nào đó sẽ giúp bạn vơi nhẹ nỗi buồn xúc cảm tổn thương. Hãy trầm tĩnh và bao dung với những người đã từng gây ra nỗi đau cho bạn.
Chẳng có gì đáng để lo sợ vì chúng ta chẳng có gì để mất. Tất cả những gì người khác có thể cướp đi từ bạn đều chẳng đáng giá gì. Tại sao bạn phải lo sợ, hoài nghi, do dự? Bạn phải là chính bạn, là sự tự do không giới hạn, trải nghiệm và sống thật sự. Có quá nhiều người đánh mất chính mình để làm hài lòng người khác. Thách thức của cuộc sống là tận hưởng mọi thứ mà không lệ thuộc vào bất cứ điều gì.
“Bạn sống đôi khi không vì cái gì cả
Khi bạn sống trong chờ mong: thì đó là hy vọng
Khi bạn sống có mục đích, có sự  hy sinh và niềm hy vọng. Đó là niềm tin
Hãy sống với niềm tin từ trong trái tim mình, dù cuộc đời có muôn nghìn cay đắng”.
Cuộc đời con người chúng ta ngắn ngủi lắm các bạn à. Có thể hôm qua là quá khứ, hôm nay là hiện tại, ngày mai vẫn còn là bí ẩn. Vậy tại sao chúng ta không sống hết mình cho ngày hôm nay?
Mỗi ngày sẽ là một ngày mới tốt lành và bất ngờ nhất sẽ đến cùng với cố gắn của mình. Những gì đã qua sẽ trở thành vốn sống của bạn. Cuộc sống không có điều gì mất đi mà không mang đến cho ai điều mới mẻ, bổ ích hơn. Nếu bạn chưa tìm được thì hãy suy nghĩ sâu sắc, tĩnh lặng để nhận ra điều đó và đừng lãng phí thời gian một khi bạn đã hiểu. Những gì bạn cho đi hôm nay từ trái tim chắc chắn bạn sẽ nhận lại được từ trái tim – ngày mai hoặc sau này. Đừng chỉ cầu mong, mơ ước không mà hãy hành động. Hãy sống giản dị, chân thành và thật lòng. Cuộc đời này luôn có luật nhân quả, sẽ luôn công bằng, có trước có sau với tất cả mọi người, với nhũng gì bạn đang thực lòng suy nghĩ, đang làm và hướng đến hôm nay. Chính bạn mới là người hiểu rõ được những gì bạn có thể làm được và nên làm. Bạn hãy tin vào điều kỳ diệu và phép nhiệm màu của tâm hồn con người, của cuộc sống – và nhất là tin vào chính bạn.
Niềm tin giúp chúng ta khơi nguồn những năng lực phong phú nhất ẩn sâu trong con người, tạo ra và định hướng cho những nguồn năng lực ấy giúp thực hiện những mục tiêu mong muốn.
Niềm tin mở cánh cửa đến với tinh hoa. Khi tin điều gì là chân lý, bạn thật sự có trạng thái tin tưởng hoàn toàn vào điều bạn cho là đúng. Niềm tin là nguồn năng lượng mạnh mẽ nhất trong việc tạo ra những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Ngược lại, niềm tin bị giới hạn cũng sẽ hủy hoại hành động. Niềm tin mang lại tâm trạng tràn đầy sức sống sẽ khiến con người mạnh mẽ hẳn lên.
“Niềm tin là niềm tin!
Có thể đánh mất tất cả nhưng đừng đánh mất niềm tin...”
NGUYỄN THỊ HOA
(GV GD Công dân)