CHÀO MỪNG

Chào mừng bạn đến với blog Học Văn của học sinh trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn Bình Định - Mọi thông tin liên hệ, đóng góp bài vở, xin gửi về vankhoa11@gmail.com hoặc liên hệ trực tiếp với lớp trưởng Chuyên Văn khoá 11 Đỗ Lê Bảo Duyên - LPHT Trần Thái Diễm Chi

Thứ Bảy, 23 tháng 1, 2010

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bước phát triển mới của chủ nghĩa Mác - Lênin, được vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Điều cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với giải quyết xã hội và giải phóng con người. Trong đó, vấn đề con người là vấn đề lớn, được đặt lên hàng đầu và là vấn đề trung tâm, xuyên suốt trong toàn bộ nội dung tư tưởng của Người.

Vũ Thị Kim Dung

Khoa Giáo dục Chính trị - Trường ĐHSP Hà Nội

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bước phát triển mới của chủ nghĩa Mác - Lênin, được vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Điều cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với giải quyết xã hội và giải phóng con người. Trong đó, vấn đề con người là vấn đề lớn, được đặt lên hàng đầu và là vấn đề trung tâm, xuyên suốt trong toàn bộ nội dung tư tưởng của Người. Tin ở dân, dựa vào dân, tổ chức và phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân, bồi dưỡng, đào tạo và phát huy mọi năng lực của dân (ở từng cá nhân riêng lẻ và của cả cộng đồng), đó là tư tưởng được Hồ Chí Minh vận dụng và phát triển trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng giành độc lập dân tộc cũng như xây dựng đất nước. Tư tưởng đó cũng chính là nội dung cơ bản ủa toàn bộ tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh.

Đối với Hồ Chí Minh, con người vừa tồn tại vừa tư cách cá nhân, vừa là thành viên của gia đình và của cộng đồng, có cuộc sống tập thể và cuộc sống cá nhân hài hòa, phong phú. Người đã nêu một định nghĩa về con người: "Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người". Quan điểm đó thể hiện ở chỗ Người chưa bao giờ nhìn nhận con người một cách chung chung, trừu tượng. Khi bàn về chính sách xã hội, cũng như ở mọi nơi, mọi lúc, trong mọi hoàn cảnh, Người luôn quan tâm đến nhu cầu, lợi ích của con người với tư cách nhu cầu chính đáng. Đem lại lợi ích cho con người chính là tạo ra động lực vô cùng lớn lao cho sự nghiệp chung, vì nếu như những nhu cầu, lợi ích của mỗi cá nhân không được quan tâm thỏa đáng thì tính tích cực của họ sẽ không thể phát huy được. Trong khi phê phán một cách nghiêm khắc chủ nghĩa cá nhân, Người viết: "Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là "giày xéo lên lợi ích cá nhân". Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình". Trong quan điểm về thực hiện một nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, theo Người, phải là một nền dân chủ chân chính, không hình thức, không cực đoan, trong đó mỗi con người cụ thể phải được đảm bảo những quyền lợi và nghĩa vụ của mình theo hiến pháp và pháp luật. Con người, với tư cách là những cá nhân, không tồn tại biệt lập mà tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với cộng đồng dân tộc và với các loài người trên toàn thế giới.

Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không tồn tại như một phạm trù bản thể luận có tính trừu tượng hóa và khái quát hóa, mà được đề cập đến một cách cụ thể, đó là nhân dân Việt Nam, những con người lao động nghèo khổ bị áp bức cùng cực dưới ách thống trị của phong kiến, đế quốc; là dân tộc Việt Nam đang bị đô hộ bởi chủ nghĩa thực dân; và mở rộng hơn nữa là những "người nô lệ mất nước" và "người cùng khổ". Lôgíc phát triển tư tưởng của Người là xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước để đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với chủ nghĩa quốc tế chân chính. Theo lôgíc phát triển tư tưởng ấy, khái niệm "con người" của Hồ Chí Minh tiếp cận với khái niệm "giai cấp vô sản cách mạng". Người đề cập đến giai cấp vô sản cách mạng và sự thống nhất về lợi ích căn bản của giai cấp đó với các tầng lớp nhân dân lao động khác (đặc biệt là nông dân). Người nhận thức một cách sâu sắc rằng, chỉ có cuộc cách mạng duy nhất và tất yếu đạt tới được mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và toàn thể nhân loại khỏi mọi sự nô dịch, áp bức. Toàn bộ các tư tưởng, lý luận (chiếm một khối lượng lớn trong các tác phẩm của Người) bàn về cách mạng (chiến lược giải pháp; bàn về người cách mạng và đạo đức cách mạng, về hoạch định và thực hiện các chính sách xã hội; về rèn luyện và giáo dục con người v.v...) về thực chất chỉ là sự cụ thể hóa bằng thực tiễn tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người được khái niệm vừa là mục tiêu của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, vừa là động lực của chính sự nghiệp đó. Tư tưởng đó được thể hiện rất triệt để và cụ thể trong lý luận chỉ đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Trong lý luận về xây dựng chế độ mới, Hồ Chủ tịch đã khẳng định xây dựng chế độ dân chủ nhân dân gắn liền với việc thực hiện bước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong kháng chiến giải phóng dân tộc cần xây dựng chế độ dân chủ nhân dân để đẩy mạnh công cuộc kháng chiến, đồng thời tạo ra những tiền đề cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội; trong xây dựng chủ nghĩa xã hội cần phải thực hiện chế độ dân chủ nhân dân, vì như Người nói: "Đây là cuộc chiến đấu khổng lồ chống lại những cái gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi". Cuộc chiến đấu ấy sẽ không đi đến thắng lợi, nếu không "dựa vào lực lượng của toàn dân". Về chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh không bao giờ quan niệm hình thái xã hội đó như một mô hình hoàn chỉnh, một công thức bất biến. Bao giờ Người cũng coi trọng những điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa khách quan. Người chỉ đề ra những mục tiêu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội với những bước đi thiết thực và những nội dung cơ bản nhất. Theo Người: "Nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết là làm cho nhân dân lao động thoát khỏi bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và được sống đời hạnh phúc"; "Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân" xây dựng chủ nghĩa xã hội tức là làm cho nhân dân ta có một đời sống thật sung sướng, tốt đẹp. Người dạy xây dựng chủ nghĩa xã hội phải thiết thực, phù hợp với điều kiện khách quan, phải nắm được quy luật và phải biết vận dụng quy luật một cách sáng tạo trên cơ sở nắm vững tính đặc thù, tránh giáo điều, rập khuôn máy móc. Sự sáng tạo đó gần gũi, tương đồng, nhất quán với luận điểm của Ăngghen: "Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo. Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay". Vì vậy, không chỉ trong lý luận về đấu tranh giành độc lập dân tộc mà cả trong lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội khi định ra những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, trước hết, "cần có con người xã hội chủ nghĩa", Hồ Chí Minh đã thể hiện nhất quán quan điểm về con người: con người là mục tiêu, đồng thời vừa là động lực của sự nghiệp giải phóng xã hội và giải phóng chính bản thân con người.

Tấm lòng Hồ Chí Minh luôn hướng về con người. Người yêu thương con người, tin tưởng con người, tin và thương yêu nhân dân, trước hết là người lao động, nhân dân mình và nhân dân các nước. Với Hồ Chí Minh, "lòng thương yêu nhân dân, thương yêu nhân loại" là "không bao giờ thay đổi". Người có một niềm tin lớn ở sức mạnh sáng tạo của con người. Lòng tin mãnh liệt và vô tận của Hồ Chí Minh vào nhân dân, vào những con người bình thường đã được hình thành rất sớm. Từ những năm tháng Người bôn ba tìm đường cứu nước, thâm nhập, lăn lộn, tìm hiểu thực tế cuộc sống và tâm tư của những người dân lao động trong nước và nước ngoài. Người đã khẳng định: "Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương ẩn giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét, và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến"1. Tin vào quần chúng, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, đó là một trong những phẩm chất cơ bản của người cộng sản. Và đây cũng chính là chỗ khác căn bản, khác về chất, giữa quan điểm của Hồ Chí Minh với quan điểm của các nhà Nho yêu nước xưa kia (kể cả các bậc sĩ phu tiền bối gần thời với Hồ Chí Minh) về con người. Nếu như quan điểm của Hồ Chí Minh: "Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết toàn dân", thì các nhà Nho phong kiến xưa kia mặc dù có những tư tưởng tích cực "lấy dân làm gốc", mặc dù cũng chủ trương khoan thư sức dân", nhưng quan điểm của họ mới chỉ dừng lại ở chỗ coi việc dựa vào dân cũng như một "kế sách", một phương tiện để thực hiện mục đích "trị nước", "bình thiên hạ". Ngay cả những bậc sĩ phu tiền bối của Hồ Chí Minh, tuy là những người yêu nước một cách nhiệt thành, nhưng họ chưa có một quan điểm đúng đắn và đầy đủ về nhân dân, chưa có đủ niềm tin vào sức mạnh của quần chúng nhân dân. Quan điểm tin vào dân, vào nhân tố con người của Người thống nhất với quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin: "Quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra lịch sử".

Tin dân, đồng thời lại hết lòng thương dân, tình thương yêu nhân dân của Hồ Chí Minh có nguồn gốc sâu xa từ trong truyền thống dân tộc, truyền thống nhân ái ngàn đời của người Việt Nam. Cũng như bao nhà Nho yêu nước khác có cùng quan điểm "ái quốc là ái dân", nhưng điểm khác cơ bản trong tư tưởng "ái dân" của Người là tình thương ấy không bao giờ dừng lại ở ý thức, tư tưởng mà đã trở thành ý chí, quyết tâm thực hiện đến cùng sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại cần lao, xóa bỏ đau khổ, áp bức bất công giành lại tự do, nhân phẩm và giá trị làm người cho con người. ở Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước gắn bó không tách rời với chủ nghĩa quốc tế chân chính. Tình thương yêu cũng như toàn bộ tư tưởng về nhân dân của Người không bị giới hạn trong chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi mà nó tồn tại trong mối quan hệ khăng khít giữa các vấn đề dân tộc và giai cấp, quốc gia với quốc tế. Yêu thương nhân dân Việt Nam, Người đồng thời yêu thương nhân dân các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Trong sự nghiệp lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh luôn coi trọng sức mạnh đoàn kết toàn dân và sự đồng tình ủng hộ to lớn của bè bạn khắp năm châu, của cả nhân loại tiến bộ. Người cũng xác định sự nghiệp cách mạng của nước ta là một bộ phận không thể tách rời trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh giải phóng nhân loại trên phạm vi toàn thế giới.

Tóm lại: Quan niệm về con người, coi con người là một thực thể thống nhất của "cái cá nhân" và "cái xã hội", con người tồn tại trong mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân với cộng đồng, dân tộc, giai cấp, nhân loại; yêu thương con người, tin tưởng tuyệt đối ở con người, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp giải phóng xã hội và giải phóng chính bản thân con người, đó chính là những luận điểm cơ bản trong tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh. Xuất phát từ những luận điểm đúng đắn đó, trong khi lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, Hồ Chí Minh luôn tin ở dân, hết lòng thương yêu, quý trọng nhân dân, biết tổ chức và phát huy sức mạnh của nhân dân. Tư tưởng về con người của Người thông qua thực tiễn cách mạng của Người thông qua thực tiễn cách mạng đã trở thành một sức mạnh vật chất to lớn và là nhân tố quyết định thắng lợi của chính sự nghiệp cách mạng ấy.

Tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh dựa trên thế giới quan duy vật triệt để của chủ nghĩa Mác - Lênin. Chính vì xuất phát từ thế giới quan duy vật triệt để ấy, nên khi nhìn nhận và đánh giá vai trò của bản thân mình (với tư cách là lãnh tụ), Người không bao giờ cho mình là người giải phóng nhân dân. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, người cán bộ (kể cả lãnh tụ) chỉ là "đầy tớ trung thành" có sứ mệnh phục vụ nhân dân, lãnh tụ chỉ là người góp phần vào sự nghiệp cách mạng của quần chúng. Tư tưởng này đã vượt xa và khác về chất so với tư tưởng "chăn dân" của những người cầm đầu nhà nước phong kiến có tư tưởng yêu nước xưa kia. Và đây, cũng chính là điều đã làm nên chủ nghĩa nhân văn cao cả ở Hồ Chí Minh, một chủ nghĩa nhân văn cộng sản trong cốt cách của một nhà hiền triết phương Đông.

Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Tư tưởng về con người của Đảng Cộng sản Việt Nam nhất quán với tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh. Sự nhất quán ấy được thể hiện qua đường lối lãnh đạo cách mạng và qua các chủ trương chính sách của Đảng trong suốt quá trình Đảng lãnh đạo công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, tư tưởng đó tiếp tục được Đảng ta quán triệt vận dụng và phát triển. Con người Việt Nam đang là trung tâm trong "chiến lược phát triển toàn diện"; đang là động lực của công cuộc xây dựng xã hội mới với mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội".

Tạp chí Khoa học chính trị, số 2-1998

Chủ Nhật, 17 tháng 1, 2010

Hướng dẫn gửi bài

Để post bài cho blog Học Văn, đăng nhập bằng tài khoản của mình, sau đó vào trang chuyenvanlqd.blogspot.com , ở phía trên góc phải của trình duyệt có mục Bài đăng mới, nhấn vào link, sẽ hiện lên khung đăng bài.
Trình tự:
Đặt tiêu đề bài đăng
Đánh máy văn bản (mã Unicode) vào khung bài đăng
Đặt nhãn cho bài đăng (Lưu ý nhãn chính là chuyên mục, có thể chọn theo gợi ý nhãn để đưa vào chuyên mục phù hợp)
Nhấn nút xuất bản
Xem bài đăng
Nếu cần đưa hình ảnh thì bấm vào khung chèn hình ảnh, dán đường dẫn hình ảnh vào từ web (file hình ảnh có đuôi là jpg hay gif) hoặc tải từ máy lên!
Ví dụ:


Cần đưa video thì có thể chọn vị trí chèn trong khung đăng bài, chuyển sang chế độ sọan thảo html, dán mã nhúng vào là có video.

Nếu có sai sót trong quá trình post bài thì bấm vào hình cây bút chì dưới bài để chỉnh sửa.
- Lưu ý: nếu bài gõ trong Word, có thể copy và dán vào bài, sau đó bấm xuất bản, trình duyệt sẽ báo lỗi html, chỉ việc xóa những chỗ trình duyệt đã cảnh báo, đó là các thẻ meta, thẻ link,... là có thể đăng bài. Bằng cách này có thể đưa bài có table vào trong blog.
Chúc các thành viên gửi bài thành công và post nhiều bài đóng góp!
 Những người được cấp đặc quyền quản trị có thể chỉnh sửa bài đăng của blog.

Chủ Nhật, 10 tháng 1, 2010

Chuyên đề 4: Quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến 1945

Nội dung

1. Khái niệm hiện đại hóa
- Hiện đại hoá về mặt kinh tế, xã hội, chính trị
- Hiện đại hoá như là phát triển các phẩm chất của tính hiện đại.
2.Quá trình hiện đại hoá
- Bối cảnh hiện đại hoá về các mặt kinh tế, xã hội, chính trị trên thế giới và trong nước Việt Nam: đô thị hoá, kinh tế hàng hoá, thị dân, chủ nghĩa cá nhân, ý thức dân tộc mới, trưòng học hiện đaị, chữ quốc ngữ, máy in, nhà xuất bản, báo chí
- Quá trình phát triển các phẩm chất của tính hiện đại trong triết học, mĩ học, văn học: giả từ quan niệm văn học trung đại, phát triển ý thức cá nhân, tinh thần tự do sáng tạo, ý thức lí tính, ý thức về dân chủ, văn minh, sự giao lưu thế giới, văn học tự chủ, coi trọng giá trị thẩm mĩ.
3. Sản phẩm của hiện đại hoá văn học: hệ thống đề tài, chủ đề văn học mới, hệ thống thể loại văn học mới, ngôn ngữ văn học mới, ý thức phong cách mới.
Mức độ cần đạt

1. Kiến thức:
- HS phân biệt được khái niệm hiện đại hoá và tính hiện đại. Hiện đại hóa là khái niệm xã hội học, kinh tế học, co thể lượng hoá bằng các chỉ tiêu kinh tế, cộng nghiệp, thu nhập, phần trăm đô thị hoá…Tính hiện đại là khái niệm có nội dung triết học và mĩ học.
- Nắm được toàn diện khái niệm quá trình hiện đại hoá các mặt, trong đó đặc biệt có tính hiện đại của văn học, nghệ thuật (âm nhạc, hội hoạ, điêu khắc, kịch nói). GV giúp học sinh hiểu nội hàm của tính hiện đại trong văn học, phân tích, đối chiếu với văn học trung đại, các phẩm chất của tính hiện đại thể hiện trong các sáng tác văn học tiêu biểu. Đây là phần trọng tâm.
2. Kĩ năng:
- Biết chỉ ra các biểu hiện của tính hiện đại trong các văn bản văn học đã học, so với văn học trung đại.
- Biết phác hoạ quá trình hiện đại hoá văn học
3. Thái độ:
Biết đánh giá và trân trọng sự tiến bộ của văn học trong tiến trình lịch sử.

Chuyên đề 3 : Luận điểm và lập luận trong bài nghị luận

Nội dung
Mức độ cần đạt
1.Thế nào là luận điểm và lập luận trong bài văn nghị luận ? Vai trò và tác dụng của luận điểm, lập luận.
- Luận điểm và lập luận
- Vai trò và tác dụng
2. Yêu cầu của luận điểm và lập luận
- Yêu cầu của luận điểm
- Yêu cầu của lập luận
- Các lỗi về luận điểm và lập luận
3. Nhận diện và phân tích luận điểm, lập luận
- Nhận diện phân tích, đánh giá luận điểm
- Nhận diện phân tích, đánh giá lập luận
- Nhận diện và phân tích lỗi về luận điểm và lập luận- nêu hướng khắc phục.
4. Luyện tập hình thành luận điểm ( tạo luận điểm)
5. Luyện tập về lập luận
1. Kiến thức:
- Hiểu thế nào là luận điểm và lập luận của một bài văn nghị luận .
- Nắm được vai trò và tác dụng của luận điểm và lập luận trong bài nghị luận.
- Hiểu yêu cầu của luận điểm và lập luận
- Nắm được các lỗi thông thường về luận điểm, lập luận
2. Kỹ năng: 
- Biết nhận diện một luận điểm, lập luận
- Biết nhận ra các lỗi về luận điểm và lập luận
- Có kĩ năng hình thành và đề xuất luận điểm
- Có kĩ năng lập luận chặt chẽ, có sức thuyết phục
3. Thái độ:
- Có ý thức tìm hiểu về luận điểm và lập luận trong nói và viết bài văn nghị luận

Chuyên đề 2: Văn nghị luận

Nội dung
Mức độ cần đạt
1. Thế nào là văn nghị luận ?
- Mục đích của bài văn nghị luận
- Nội dung bài văn nghị luận
- Cách thức trình bày bài văn nghị luận
- Phân loại văn nghị luận: Nghị luận xã hội và nghị luận văn học
- Văn nghị luận và cỏc kiểu văn bản khác

2. Vai trò  ý nghĩa của văn nghị luận
- Vai trò và ý nghĩa của văn nghị luận đối với đời sống tinh thần ( lịch sử) của dân tộc.
- Vai trò và ý nghĩa của văn nghị luận đối với việc hình thành tư duy của con người.
- Vai trò và ý nghĩa của văn nghị luận đối với việc giáo dục tư tưởng, nhân cách,…
3.  Luyện tập, thực nh
- Nhận diện và phân tích đặc điểm văn nghị luận qua một đoạn văn, một bài văn.
- Luyện tập: thuyết minh, giới thiệu bài văn nghị luận xã  hội và nghị luận văn học hay
1. Kiến thức:
- Hiểu thế nào là một bài văn nghị luận, các yếu tố tạo nên bài văn nghị luận:
+ Mục đớch
+ Nội dung
+ Cách thức
+ Phân loại
- Phân biệt văn nghị luận với các kiểu văn bản khác như tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh…và mối quan hệ của chúng với văn nghị luận.
- Hiểu vai trò và ý nghĩa của VNL:
+ Đối với lịch sử dân tộc
+ Đối với rèn luyện tư duy
+ Đối với giáo dục tư tưởng, nhân cách
2. Kỹ năng
- Nhận biết được đoạn văn, bài văn nghị luận và lí giải được bằng các đặc điểm của thể văn này.
- Biết cách thuyết minh, giới thiệu một bài văn nghị luận
3. Thái độ:
- Biết trân trọng những áng văn nghị luận hay

Thứ Ba, 5 tháng 1, 2010

Danh mục các chuyên đề chuyên sâu- Ngữ văn lớp 11 nâng cao

TT
Tên chuyên đề
Tính chất
1
2
3
4

5

6
7
8

9
10

Đọc hiểu văn bản văn học
Văn nghị luận
Luận điểm và lập luận trong bài nghị luân
Quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945
Các khuynh hướng yêu nước trong văn học Việt Nam từ cuối thế kỉ XIX đến năm 1945
Các nhà thơ mới Việt Nam 1932 – 1945
Tiểu thuyết Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến 1945
Các khuynh hướng thơ tượng trưng, siêu thực trong thơ mới Việt Nam
Nghĩa hàm ẩn
Thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch
Lí luận văn học
Làm văn
Làm văn
Văn học Việt Nam

Văn học Việt Nam

Văn học Việt Nam
Văn học Việt Nam
Văn học Việt Nam

Tiếng Việt
Lí luận văn học
                                                     Cộng

Tất cả các thành viên chuyên Văn cần tích cực chuẩn bị tư liệu để học tập theo định hướng này! Cần tập trung tối đa trong thời gian này.

Chuyên đề 1 : Đọc hiểu văn bản văn học (Lớp 11)

Nội dung
1. Đặc điểm chung của văn bản văn hoc
- Có mở - kết; có kết cấu, có chủ đề.
- Có lời phát ngôn (kể, trữ tình, lời thoại) và đối tượng được nói tới.
- Có chủ thể lời nói (người kể chuyện, nhân vật trữ tình, người đối đáp).
- Lời văn có phương thức biểu cảm và giá trị thẩm mĩ, có phong cách cá nhân, có tính liên văn bản.
- Văn bản văn học được chọn lọc, tổ chức cố định. Thay đổi văn bản là thay đổi ý nghĩa.
2. Đặc điểm về ý nghĩa của văn bản
- Nội dung thông báo và ý nghĩa.
- ý nghĩa văn bản thiếu xác định, do người đọc đoán ra.
- Tính đa nghĩa của văn bản văn học.
3. Đọc hiểu văn bản văn học
a. Nguyên tắc chung
- Đọc hiểu là biến văn bản của tác giả thành văn bản của người đọc.
- Người đọc phát hiện ý nghĩa của văn bản.
b. Phương pháp đọc hiểu
- Hiểu từ ngữ, biểu tượng, câu, đoạn, sự kiên kết, cấu trúc của văn bản. Trật tự, quan hệ là ý nghĩa.
- Văn cảnh và ngữ cảnh xã hội , văn hóa, lịch sử.
- Tính năng động sáng tạo của người đọc.
- Có thể sử dụng các biện pháp như so sánh, tỉnh lược, thay thế, giả định... để phát hiện ý nghĩa của văn bản.
Mức độ cần đạt
1.Kiến thức
- Học sinh hiểu: ý nghĩa của văn bản không được cung cấp sẵn trong văn bản. Phần nhiều ý nghĩa văn bản mà người đọc biết là do người đọc trước để lại, không nhất thiết khi nào cũng hoàn toàn đúng. Từ đó mà phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của người đọc trong việc tìm ra những ý chưa biết.
2. Kĩ năng
- Biết vận dụng các phương pháp, biện pháp phát hiện ý nghĩa. Không a dua theo cách hiểu có sẵn.
- Có phương pháp đọc, không phải đọc mò mẩm, đọc hú hoạ.
3. Thái độ
- Khiêm tôn, cẩn trọng khi phát hiện
ý nghĩa của văn bản, biết tôn trọng người đi trước.
- Có thái độ đối thoại với các cách hiểu có trước.
- Thể hiện cá tính của mình trong khi đọc văn bản văn học.
YÊU CẦU TỰ NGHIÊN CỨU CHUYÊN ĐỀ NÀY, THỰC HÀNH ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC, GHI TRONG SỔ TAY VĂN HỌC VÀ VIẾT MỘT BÀI CẢM NHẬN VĂN BẢN TỰ CHỌN HOẶC THEO ĐỀ NGHỊ ĐỌC TÁC PHẨM BÀ LÃO IDECGHIN TRONG DIỄN ĐÀN HỌC SINH!